Thứ 4, ngày 16 tháng 10 năm 2019
“Ai dùng các hạnh lành, Làm xóa mờ nghiệp ác, Chói sáng rực đời này, Như trăng thoát mây che.” Pháp Cú 173

GIỚI ĐAO – ĐỘ DIỆP

gioi

Thích Thiện Phước 

          

          Tỳ kheo đệ tử của Phật, đời sống hằng ngày đều dựa trên tinh thần bốn thánh chủng, sống độc thân không sở hữu về tài sản vật chất. Tuy nhiên, trên thực tế, mang thân bốn đại nầy cần phải có những phẩm vật thiết thực trong sinh hoạt và giấy tờ tùy thân để chứng minh là một tu sĩ thật sự. Do vậy giới đao, độ điệp là những tư cụ phải có.

          GIỚI ĐAO

          Giới đao 戒刀 lại gọi là tiểu đao, con đao, là một trong 18 vật Tỳ kheo đem theo bên mình, thường dùng trong sinh hoạt nhà Phật. Giới đao dùng để rọc y, cắt móng tay. Nhân vì Phật không cho sử dụng nó để cắt chặt cây cỏ, cho nên Tỳ kheo đem nó theo gọi là Giới Đao.

         * Duyên khởi nhà Phật sử dụng giới đao:

          Luật Thập Tụng chép: Khi Phật còn tại thế, lúc các Tỳ kheo cắt rọc y phục nhân vì không có dụng cụ để cắt, cho nên dùng tay xé hoặc dùng răng cắn, kết quả thì y phục bị hư. Sau khi Phật biết được điều đó, Ngài bèn cho các Tỳ kheo được cất chứa con dao để sử dụng. Thế nhưng trong các Tỳ kheo có người dùng vàng bạc để làm dao, lại có người dùng châu báu và những vật quý trọng khác để làm cán dao, do đó bị ngoại đạo và người thế tục chê cười. Phật biết được bèn quy định: Giới đao mà Tăng chúng mang theo không được dùng vàng bạc vật báu để làm thành, chỉ được dùng sừng, đồng, sắt, trúc,… làm thôi.

          * Hình dạng lớn nhỏ của Giới Đao:

          Nhà Phật sử dụng Giới Đao lớn nhỏ có một quy định, thông thường phân làm ba loại lớn vừa nhỏ. Lớn dài 6 lóng tay, nhỏ 4 lóng, vừa ở khoảng giữa hai bậc lớn và nhỏ. Hình dạng của giới đao có hai loại:

          - Cong giống như lông cánh chim.

          - Giống như đuôi con gà.

          Tứ Phần Luật chép: “Phật cho Tỳ kheo cất chứa giới đao cắt móng tay, cạo tóc”. Và phải dùng bao da hoặc ống để đựng dao. 

          “Luật Thập Tụng” và “Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự” chép: Tỳ kheo dùng dao hình bán nguyệt dài chừng 4 lóng tay, bậc trung thì phải 5 lóng.

          * Công dụng của giới đao:

          Công dụng của Giới Đao chỉ giới hạn dùng để: cạo tóc, cắt móng tay, cắt y, cắt gọt trái cây, mổ mụn nhọt, cắt lông tơ trên y, có 6 công dụng như thế.

          Bộ “Hành Sự Sao, Bát Khí Chế Thính Thiên” chép: “Cho chứa cất con đao vì có 6 công dụng: Lột vỏ cây, cắt móng tay, nặn mụn nhọt, cắt y, cắt lông tơ trên y, tác tịnh trái cây, cho đến lúc ăn cần sử dụng”.

          Trong Phật giáo, Giới Đao ngoài ý nghĩa giá trị thật dụng ra còn có ý nghĩa biểu thị tinh thần. Đại Tống Tăng Sử Lược chép: Tăng chúng cầm Giới Đao… và những vật mang theo đều là đạo cụ, nhằm biểu thị dùng dao ngộ đạo, đoạn hết tất cả những điều ác.

 Giới đao và Độ điệp của Hòa thượng Hoằng Thông

( Giới đao và Độ điệp của Hòa thượng Hoằng Thông )

          Độ Điệp là một loại giấy tờ nhằm chứng thực cho thân phân của một cá nhân nào đó hiện là một tu sĩ thật sự. Đây là loại giấy tờ có từ xa xưa. Nó như một loại giấy thông hành, một loại chứng minh thư của tu sĩ Phật giáo giúp cho người xuất gia đi xa được sự ủng hộ của trú xứ.

          Ở Trung quốc, vào thời đại Bắc Ngụy đã có chế độ này rồi. Vào năm Khai nguyên 17 (729) đời Đường, vua ban lệnh cho tăng ni trong nước 3 năm làm sổ sách một lần.

          Năm Thiên bảo thứ 6 (747), vua hạ chiếu cho tăng ni trong nước lệ thuộc vào “Lưỡng nhai công đức sứ” và do Ti Thượng thư tỉnh từ bộ cấp phát giấy tờ gọi là Từ bộ điệp, tăng ni có Từ bộ điệp thì được miễn phu dịch.

          Năm Đại trung 10 (856) đời vua Tuyên tông, những người thụ giới bắt đầu được triều đình cấp chứng minh thư gọi là Giới điệp. Những tăng sĩ không có độ điệp gọi là Tư độ tăng và không được nhà nước thừa nhận. Mãi đến cuối đời Thanh việc cấp Độ điệp mới chấm dứt. Đến thời Dân quốc trở đi, thì do Giáo hội Phật giáo Trung quốc cấp phát trở lại, nhưng là cấp Giới điệp chứ không phải Độ điệp.

          Theo nguyên tắc chung, những người trúng cách thi kinh (trước khi được độ phải qua một kì thi đọc kinh hoặc giải thích kinh luận) mới được cấp phát Độ điệp, nhưng trong thực tế khó tránh khỏi tệ nạn “đặc ân” nộp tiền.

          Như niên hiệu Chí đức năm đầu (756) đời vua Túc tông nhà Đường, vì nhu cầu trong quân đội, Tể tướng Bùi miện tâu lên vua xin lệnh: ai nộp 100 quan tiền mới được cấp phát Độ điệp và cho phép cạo tóc. Tệ nạn mua bán Độ điệp bắt đầu từ đó! Đến tháng 7 niên hiệu Hy ninh năm đầu (1068) đời vua Thần tông nhà Tống (có thuyết nói tháng 10 năm Trị bình thứ 4 (1067) đời vua Anh tông), nhân năm lụt lội, đói kém, nghe lời tâu của quan Ti gián tiền phụ, vua lại thi hành chính sách bán Độ điệp. Sau, chính sách này cứ kéo dài mãi nên bị kẻ gian lợi dụng làm Độ điệp giả rất nhiều. Do đó, tháng 8 năm Thiệu hưng thứ 3 (1133) đời vua Cao tông nhà Nam Tống, theo đề nghị của ông Chu dị, nhà nước bèn làm Độ điệp bằng lụa mỏng có hoa để phòng kẻ gian làm giả. Đời Nam Tống cũng có lệ lạm dụng bán Độ điệp mà lịch sử gọi là “tiền miễn đinh” (miễn thuế hộ khẩu) hoặc “tiền thanh nhàn” (mua sự thanh nhàn).

          Từ đời Đường về sau, Độ điệp được làm bằng lụa, đến đời Tống Chân tông thì đổi lại bằng giấy. Căn cứ vào số bản Độ điệp do Từ bộ đương thời cấp phát, thì thấy rằng, chỉ trong năm Thiên Hy thứ 3 (1019) thôi, toàn quốc đã có tới 23 vạn người xuất gia làm tăng. Đến đời vua Tống Thần tông thì bắt đầu phát hành “Không điệp”, nghĩa là tờ Độ điệp để trống, chưa ghi pháp danh ai cả.

          Mục Thiệu hưng thập ngũ niên đại trong Phật tổ thống kỉ quyển 47 (Đại 49, 425 hạ) nói: “Vua ban lệnh cho Tăng ni, Đạo sĩ trong nước bắt đầu nộp tiền đinh từ 1.300 đến 10.000 tiền gồm chín bậc, gọi là tiền thanh nhàn. Những người từ 60 tuổi trở lên và người tàn tật được miễn nộp”.

          Ngoài ra, khi chư tăng đi hành cước phải mang theo Độ điệp bên mình, khi ở lại chùa nào thì xuất trình cho vị Duy na để chứng minh mình là tăng được nhà nước công nhận (công độ tăng).

          Tại Nhật bản, từ thời Nại lương trở đi, người xuất gia được cấp Độ điệp trước, lúc thụ giới mới trao Giới điệp. Về sau, vào thời đại Liêm thương, việc cấp phát Độ điệp có dễ dàng hơn. Thiền sư Phật thừa hiệu Tuệ quảng trong cùng một ngày cấp cả Độ điệp và Giới điệp. Từ đời Minh trị về sau, các tông phái cứ y theo lệ cũ mà cấp phát Độ điệp và Giới điệp.

(Chương X, mục Sa di Đắc Độ của chương Đại chúng trong Sắc tu Bách Trượng Thanh Quy Quyển hạ; mục Từ Bộ Điệp Phụ trong Đại Tống Tăng Sử lược Quyển trung )

          Phật giáo tại Việt Nam, người xuất gia cũng phải có giới điệp: “Trong đời Pháp Loa, Tăng sĩ đã có độ Điệp tức là một loại giấy thông hành dành riêng cho Tăng sĩ. Vị Tăng nào có độ điệp thì di chuyển không bị sự trở ngại, và khi đến chùa nào nếu xuất trình độ điệp thì có thể tiếp đón và ngủ lại ban đêm. Pháp Loa là người có độ điệp đầu tiên do vua Anh Tông ban vào năm 1308 sau khi nhận chức trụ trì chùa Báo Ân ở Siêu Loại” (theo Việt nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang). Ngày nay thì đối với người Phật tử khi thọ tam quy y thì có lòng phái quy y, phát tâm xuất gia thì có đơn xin xuất gia được sự chấp thuận của cha mẹ chồng vợ, tùy theo độ tuổi lớn nhỏ, thọ giới Sa Di, Tỳ kheo thì có chứng Điệp của Sa Di, Tỳ kheo. Sau khi thọ giới tỳ kheo xong kể như chính thức trở thành bậc chúng trung tôn, nếu giấy tờ hợp lệ thì được cấp Tăng Tịch, chứng nhận là một tu sĩ hợp lệ.

          Ngày nay, những tư cụ thực dụng có khắp tất cả mọi nơi, tuy nhiên có những vật cần thiết cho cá nhân khi đi xa bắt buộc phải có. Tình hình Phật giáo thời nay, có nhiều trường hợp người thế tục lẫn vào trong Tăng đoàn, làm mất uy tín Phật giáo, gây sự chê gièm ở thế gian. Vì vậy, giấy tờ chứng thực xác minh phẩm hạnh của cá nhân cần phải có khi chọn con đường lý tưởng phụng sự Phật Pháp.

20171227165348_88131 (1)

—————————————————————-

Những Bài Viết Liên Quan
783495
Total Visit : 681807