Thứ 6, ngày 15 tháng 12 năm 2017
"Mưa thu còn đọng bên thềm. Cây vàng lá úa thâu đêm rụng đầy. Bừng lên giọt nắng ban mai. Chuông chùa ngân nhẹ nay ngày Vu Lan" - Thích Thiện Phước.

Nguồn gốc 2 chữ “Phương trượng”.

Phuong truongThích Thiện Phước

 

 “Sắc Tu Thanh Qui. Thánh Tiết” chép: “Duy na lên Phương trượng thỉnh Trụ trì kiểm tra sớ giấy”.

“Truyền Đăng Lục. Thiền Môn Qui Thức” chép: “Trưởng lão đã làm chức Hóa Chủ rồi thì phải ở chỗ Phương trượng. Giống như phòng của cư sĩ Tịnh Danh, chẳng phải cái phòng nghỉ riêng vậy”.

 “Tổ Đình Sự Uyển” chép: “Chùa chiền thời nay đem cái Chánh tẩm làm Phương trượng, bởi lấy ý từ phòng của cư sĩ Duy Ma ở thành Tỳ Da làm cái phòng chỉ có một trượng vuông mà có thể dung chứa được 3 vạn 2 ngàn tòa sư tử, có sự mầu nhiệm ấy không thể nghĩ bàn. Vương Huyền Sách đời nhà Đường, khi đi sứ sang Tây Vực, ghé qua chỗ của Duy Ma ở khi xưa, ông dùng cái hốt để đo ngang dọc thì tính ra được 10 hốt, nhân đó mà gọi là Phương trượng”.

“Pháp Uyển Châu Lâm. Cảm Thông Thiên” chép: “Nước Phệ Xá Ly có cung thành chu vi 5 dặm, Tây bắc cung 6 dặm có chùa Phật. Nơi ấy thuở xưa Đức Phật nói kinh Duy Ma; cách phía đông bắc chùa khoảng 4 dặm, có một tòa Tháp, chính là nền cơ phòng của Duy Ma xưa kia, vẫn còn nhiều linh khí, phòng nhà được xây bằng gạch”.

IMG_1048

 

 

Truyện chép: “Ngay chỗ gò đá chất lên cao là nơi mà cư sĩ hiện ra tật bệnh thuyết pháp ấy vậy. Năm Hiển Khánh đời Đường, vua sai Vệ Trưởng Sứ là Vương Huyền Sách đi sứ sang Ấn Độ, nhân dịp ấy có ghé qua nhà của Tịnh Danh bèn lấy cái hốt ra để đo nền nhà thì chỉ có 10 hốt, cho nên gọi cái nhà ấy là Phương trượng”.

Thiền sư Đạo Trung nói: “Đầu Đà Tự Bi, có chữ Phương trượng, xuất hiện vào trước thời Đường Huyền Sách nữa”.

Lại có thấy ghi lời phụ: “Văn Tuyển. Vương Giản Thê Đầu Đà Tự Bi Văn” chép: “Năm thứ 5 thời Tống Đại Minh, ban đầu lập ra Phương trượng bằng cỏ tranh để bảo hộ Kinh và tượng Phật”.

Cao Tú nói: “Vách tường dài một trượng, cao một trượng, bốn mặt đều xây tường một trượng bao quanh cho nên gọi là Phương trượng”.

Trương Tiễn nói: “Thời vua Hiếu Võ Đế nhà Tống, đã từng đề cập đến việc xây dựng nhà rộng một Phương trượng, dùng cỏ tranh lợp mái, nhằm để tôn trí Kinh và tượng Phật”.

2A

Chú thích:

- Duy na: là 1 Tăng chức, là 1 trong 3 cương vị quan trọng của Tự viện, quản lý việc của chúng Tăng, chức vị thấp hơn Thượng tòa, Tự chủ. Sau trở thành 1 trong 6 vị Tri sự bên Đông tự của một tự viện Thiền tông, trông coi kỷ cương oai nghi tới lui của chúng Tăng.

- Truyền Đăng Lục: gọi đủ là Cảnh Đức Truyền Đăng Lục là một loại sử thư của Phật giáo Thiền tông, do cao Tăng Đạo Nguyên thời Bắc Tống trước tác, 30 quyển. Cảnh Đức là niên hiệu của vua Chơn Tông đời Tống. Đăng (đèn) thì hay soi chiếu chỗ tối tăm. Thiền tông cho rằng việc lấy Pháp truyền người cũng giống như mồi đèn, cho nên có tên gọi như thế. Từ quá khứ Phật, đến Pháp tự của Pháp Nhãn Văn Ích, tự nêu ra 52 đời truyền pháp của Thiền tông, có 1701 người.

- Trưởng lão: đây là lời tôn xưng trong Phật giáo đối với những vị Tăng có đức hạnh cao tuổi hạ lớn trong Phật giáo. Nhưng trong ngữ cảnh này là tiếng tôn xưng Trụ trì vậy.

- Hóa chủ: là 1 Tăng chức, hóa duyên khắp nơi để trang trải việc chi dụng trong chùa.

- Tịnh danh chi thất:  là dịch ý từ tiếng Phạn. Duy Ma Cật là tên gọi khác của cư sĩ Tỳ Ma La Cật, cái thất của Tịnh danh, gọi là Duy Ma Tinh Xá.

- Thiền lâm: Tự viện Phật giáo, Tự viện chủ yếu được xây dựng ở núi rừng, cho nên gọi như thế, cũng chuyên chỉ cho tự viện của Thiền tông.

- Tỳ Da Ly thành: là tên nước ở Ấn Độ xưa kia, tương truyền sau khi Phật Thích Ca nhập diệt 100 năm, vì giải quyết những vấn đề còn ngờ vực, nên 700 vị Tỳ kheo nhóm họp ở đây mà kết tập lời dạy của Phật.

- Sư tử chi tòa: tức tòa sư tử, nơi Phật ngồi. Trong Phật giáo, chỗ ngồi tuyên thuyết chánh pháp thì gọi là sư tử tòa.

- Thủ bảng: tức là cái thủ bảng, cái hốt, vào thời xưa khi quan lại muốn chầu Vua, hoặc yết kiến thượng ty, phải cầm cây hốt này, nhằm ghi chép những việc cần thiết để nhớ.

- Pháp Uyển Châu Lâm: là tên của một bộ sách Phật giáo, do Đạo Thế đời nhà Đường sáng tác. Đem những truyện tích Phật giáo phân loại thành 100 thiên, thu nhặt hơn 640 điều mục, dẫn rộng khắp các kinh, luật, luận. Có giá trị nhất định.

- Phệ Xá Ly quốc: tức thành Tỳ Da Ly.

- Duy Ma Kinh: gọi đủ là “Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh”, do Ngài Cưu Ma La Thập đời hậu Tần dịch, 3 quyển. Nội dung miêu tả về chuyện Cư sĩ Duy Ma cùng Bồ tát Văn Thù bàn luận Phật pháp, tuyên dương đạt đến cảnh giới giải thoát thanh tịnh tự tâm, cho nên gọi “Tâm thanh tịnh thì cõi nước thanh tịnh”.

- Hiện tật: Thị hiện tật bệnh, theo Kinh Duy Ma chép:“Cư sĩ Duy Ma Cật thị hiện ra bệnh, nói rằng: Vì chúng sanh có bệnh nên ta bệnh”. Đức Phật sai Bồ tát Văn Thù đến thăm bệnh, ông liền đem các loại hỏi đáp, nêu bày ý nghĩa sâu xa của đại thừa như: Không, vô tướng.

- Hiển Khánh: tức là niên hiệu Hiển Khánh (656 – 661) của vua Đường Cao Tông Lý Trị.

- Văn tuyển: Nam Triều Lương Chiêu Minh Thái tử Tiêu Thống biên tập, còn gọi là “Chiêu Minh Văn Tuyển”. Tuyển chọn ghi chép: Các thể loại thi văn từ thời Tiêu Tần đến Lương, Tổng cộng có 37 thể loại, gồm 30 quyển.

- Cao Tú: người ở Quận Trúc cuối thời Hán, năm Kiến An thứ 10 (206 Tây Lịch), làm Tích Tự Không Duyên, Trừ Đông Quận Hán Dương lệnh. Năm thứ 17 (213 Tây Lịch) làm Thiên Giám Hà Đông, từng chủ giải: Mạnh Tử, Hiếu Kinh, lại có Lã Thị Xuân Thu Chú, Hoài Nam Tử Chú, Chiến Quốc Sách Chú.

- Tiển: tức Trương Tiển người Triều nhà Đường, từng soạn lời chú giải bộ “Văn tuyển”.

◊-◊————————————————–◊-◊

 

 

Những Bài Viết Liên Quan
491774
Total Visit : 390086
peuterey outlet piumini woolrich outlet woolrich outlet online woolrich outlet online woolrich outlet online doudoune moncler pas cher doudoune moncler pas cher doudoune moncler pas cher doudoune moncler pas cher doudoune moncler pas cher max maillots maillots de foot pas cher nike tn pas cher nike tn parajumper pas cher parajumper pas cher parajumper pas cher golden goose saldi golden goose saldi golden goose saldi golden goose saldi golden goose saldi golden goose saldi golden goose saldi