Chủ nhật, ngày 17 tháng 12 năm 2017
"Mưa thu còn đọng bên thềm. Cây vàng lá úa thâu đêm rụng đầy. Bừng lên giọt nắng ban mai. Chuông chùa ngân nhẹ nay ngày Vu Lan" - Thích Thiện Phước.

Sự hình thành và Phát triển của Sám pháp trong Hán truyền Phật giáo

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA SÁM PHÁP TRONG HÁN TRUYỀN PHẬT GIÁO

Thích Thiện Phước

 

          Người ta thường nói: “Con người chẳng phải là thánh hiền thì ai mà không có lỗi”. Cho nên khi có lỗi lầm rồi duy nhất chỉ có sám hối mà thôi, mạnh mẽ thừa nhận lỗi lầm. Nếu phạm lỗi đối với một người khác liền phải đến họ sám hối cầu xin người ấy rộng lượng, nhưng khi sám hối xong phải tự trách tâm mình và về sau không phạm lại nữa. Cho nên sám hối là một phương pháp tu tập không thể thiếu. Có sám hối, mọi người mới tiêu trừ được những việc làm sai lầm về sau, trong tâm không còn sanh khởi sự mặc cảm tội lỗi. Có sám hối, người phạm sai lầm mới sửa đổi làm mới, không đến nỗi phải đọa lạc, sai lầm mãi mãi. Cho nên Phật giáo rất chú trọng phương pháp sám hối, do đó mà lập ra rất nhiều nghi thức Sám Pháp.

          Sám là tiếng Phạn, lược dịch từ chữ Sám ma, nghĩa là nhẫn, mong cầu  người khác dung nhẫn, mở lòng tha thứ về lỗi lầm mình đã phạm. Hối chính là hối quá ăn năn những lỗi đã qua. Tức là đối trước chư Phật, Bồ tát, Sư trưởng, đại chúng bạch lại lỗi lầm đã xảy ra, hy vọng đạt đến mục đích diệt tội. Cho nên sám hối là Phạn Hán đều nêu ra để Phiên dịch.

          Quyển 15, bộ Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da do ngài Đường Nghĩa Tịnh dịch, trong đó chú giải rằng: “Sám hối nhân vì chữ Sám và Hối đều không đồng ý nghĩa. Sám là mong cầu tha thứ đối với những đều đã phạm tương đối nhẹ. Hối là hướng đến người khác nói ra lỗi lầm của mình, chỗ phạm tội so ra nặng.”

2

          Trong nguyên thủy Phật giáo, đương lúc Tỳ kheo phạm tội, đức Thế Tôn vì muốn cho đầy đủ sám hối hoặc hối quá mà định kỳ mỗi nửa tháng cử hành lễ Bố tát, và lấy ngày cuối cùng của mùa hạ an cư làm ngày tự tứ. Ngoài ra trong giới luật cũng nêu ra việc hối quá tội Ba Dật Đề, Đề Xá Ni, do đây mà có thể thấy sám hối là điều trọng yếu trong Tăng đoàn Phật giáo.

          Theo sự truyền bá và phát triển Phật giáo. Phương pháp sám hối chia làm 3 loại: Tác pháp sám hối, Thủ tướng sám, Vô sanh sám.

         - Tác pháp sám: Chính là căn cứ một phương pháp nhất định, để phát lồ những ác nghiệp mà mình đã tạo ra, nương vào phương pháp này mà đạt đến mục đích sám hối diệt tội. Như năm chúng xuất gia: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Thức xoa ma na, Sa di ni. Nếu như phạm giới rồi liền phải đến trước Tăng phát lộ, nói ra mình đã phạm giới gì. Sau đó trải qua trình tự Yết ma, đó cũng chính là sám hối. Sau khi cử hành nghi thức này xong thì những giới đã phạm đều được tiêu diệt, trong tâm người thọ giới cảm thấy nhẹ nhàng thanh tịnh, đây chính là Tác pháp sám. Tác pháp sám là phương pháp sám hối quan trọng của người trì giới. Phạm giới chỉ có trải qua phương pháp sám hối đúng cách thì tội mới có thể tiêu diệt.

         - Thủ tướng sám: Chính là trước hình tượng Phật, Bồ tát để cầu thấy tướng lành. Sau khi thấy tướng lành thì thân tâm được thanh tịnh thư thái, không còn mặc cảm tội lỗi nữa. Do đó mà tội ác đời quá khứ liền tiêu trừ. Tuy nhiên, phương pháp Thủ tướng sám hối này phải cảm ứng đến Phật, Bồ tát thấy được tướng lành thì đây mới là điều quan trọng.

          – Vô sanh sám: Là quán sát ác nghiệp hoặc tội nghiệp xưa nay thể tánh nó vốn là không, chỉ do hàng phàm phu mê vọng chấp trước đó thôi. Xem xét nguồn gốc của ác nghiệp, tìm không thể được, không có chỗ phát sanh, ác nghiệp đã là không sanh thì cũng không có tồn tại, vậy cần gì phải dùng phương pháp sám hối. Nhân đây mà trải qua thể chứng vô sanh, tự nhiên đạt đến mục đích sám hối. Đây chính là Vô sanh sám hối.

 

           Tác pháp sám, thủ tướng sám, vô sanh sám lại có thể qui kết thành 2 loại đó là Sự sám và Lý sám:

          - Sự sám: Chính là nương vào sự tướng để thành tựu việc sám hối như: Tụng giới, tụng kinh, niệm Phật, trì chú, quán tưởng… đều thuộc về Sự sám. Tác pháp sám, Thủ tướng sám đều thuộc về Sự sám.

          - Lý sám: Là hiểu rõ được đạo lý để đạt đến mục đích sám, như Vô sanh sám rõ được tánh nghiệp vốn là không, tội nghiệp là hư vọng, không có người tạo, không có người nhận. Tội ác từ tâm sanh cũng từ tâm mà diệt.

          Theo quan niệm của đại thừa Phật giáo Trung Quốc, niệm Phật, lạy Phật, niệm chú đều có công dụng sám hối rất lớn, hay diệt trừ được những nghiệp ác rất nặng. Cho nên phương pháp sám hối dần dần được phổ biến rộng rãi, nhưng Phật giáo Bắc truyền chú trọng sự sám để tiến đến lý sám, vì thế mới hình thành được lý sám. Sau khi thực hành sự sám, lại hành trì lý sám thì sự sám hối được viên mãn. Do năng lực của việc niệm Phật, lễ Phật sám hối, cho nên chư vị Tổ sư đem phương pháp sám hối vào trong đời sống tu tập của Tăng đoàn. Trước khi sám hối thì phải lễ bái, tán thán. Sau khi sám hối phải hồi hướng phát nguyện. Vì vậy mà dần dần trở thành nghi thức sám hối hoàn thiện. Nghi thức thông hành có 2 loại:

          1. Tập hợp các kinh đã nói để sám hối tội lỗi.

        2. Nương vào năm pháp sám hối (Lễ bái, sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng) để thực hành phương pháp tu tập chỉ quán.

5         Sám pháp ở Phật giáo Trung Quốc, khởi nguyên từ đời Tấn và dần dần thạnh hành vào thời Nam Bắc triều. Vào đời Tấn pháp sư Đạo An chế định ra những khuôn phép của Tăng Ni trong đó có: Bố tát, sai sử, hối quá. Vì vậy mà khiến cho phương pháp sám hối dần dần hoàn bị.

         Đến thời Nam Bắc triều lấy nội dung trong đại thừa kinh điển mà làm phương pháp sám hối có nhiều hình thức lưu hành. Theo đó mà có rất nhiều văn bản lễ tán và sám hối. Vào thời Nam triều Tề Võ Đế năm Vĩnh Minh (483-493). Văn Tuyên Vương Túc Tử Lương viết ra “Tịnh Trụ Tử” gồm 20 quyển đem pháp môn Tịnh Hạnh chia làm 30 môn cho nên gọi là Tịnh Trụ, chính là giữ gìn thanh tịnh 3 nghiệp thân khẩu ý. Còn chữ “Tử” chính là kế thừa ba đời chư Phật. Phải nên giữ gìn giới luật, thanh tịnh thân khẩu ý, như thế nhất định sẽ nuôi lớn căn lành. Tịnh Trụ Tử của Túc Tử Lương đặc sắc nhất là Pháp Bố Tát, vì đã nói qua toàn bộ quá trình sám hối.

          Sau thời Lương Võ Đế triệu tập cao Tăng đại đức, y cứ vào Tịnh Trụ Tử mà cắt bỏ bớt phần rườm rà, chọn lấy những diệu ngữ trong kinh điển mà sửa đổi biên tập thành “Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp” gồm 10 quyển. Đây là sám nghi do Phật giáo Trung Quốc chế tác.

           Vào thời Lương Trần, việc trước tác Pháp sám hối dần dần xuất hiện. Theo Quảng Hoằng Minh Tập, quyển 28 “Sám Tội Thiên” chép: Có “Niết Bàn Khải, Lục căn sám văn, Hối cao mạn văn” của Lương Giản Văn Đế, “Sám hối văn” của Thẩm Ước, “Kim Cang bát nhã sám văn, Ma ha bát nhã sám văn” của Lương Võ Đế. “Quần thần thỉnh Trần Võ Đế sám văn” của Giang Tổng Văn đời Trần; Thắng Thiên Vương Bát Nhã Sám Văn, Đại Thông Phương Quảng Sám Văn, Hư Không Tạng Bồ Tát Sám Văn, Phương Đẳng Đà La Ni Trai Sám Văn, Dược Sư Trai Sám Văn, Sa La Trai Sám Văn, Vô Ngại Xả Thân Hội Sám Văn… của Trần Tuyên Đế. Những nghi thức Sám văn này đều đã thất truyền. Nội dung như thế nào cũng không có căn cứ mà khảo đính.

           Các loại sám pháp y cứ vào kinh điển có kinh Niết Bàn, kinh Bát Nhã, kinh Pháp Hoa, kinh Kim Quang Minh… Bổn Tôn Phật để cung phụng cũng bất đồng. Về sau, lại có những nghi thức y cứ vào kinh Địa Tạng, kinh Viên Giác, kinh Dược Sư… mà trước tác thành Sám pháp. Cũng có sắc thái chú thuật vô cùng nồng hậu như văn “Thủy Sám”, cho đến có liên quan với Tinh Tú như “Xí Thạnh Quang Như Lai Sám Pháp”. Ngoài ra còn có xen lẫn vào tư tưởng đạo giáo như “Chiêm Sát Sám Pháp, Tháp Sám Pháp” cũng dần dần hưng thạnh lên.

         Vào thời Tùy Đường theo sự hưng khởi về Tông Phái của Phật giáo. Các Tông Phái y cứ vào kinh điển của các Tông mà soạn thành nhiều nghi thức Sám Pháp. Như Thiên Thai Trí Khải Đại sư pháp soạn thành Pháp Hoa Tam Muội Sám Nghi, Thỉnh Quán Thế Âm Sám Pháp, Kim Quang Minh Sám Pháp, Phương Đẳng Tam Muội Hành Pháp. Trí Khải Đại sư đem Chỉ Quán của Tông Thiên Thai kết hợp với Pháp Sám hối khiến cho Pháp Sám hối dần dần thoát khỏi sắc thái thế tục cầu nguyện trước kia, từ đó mà khiến cho việc chế định Sám pháp tiến đến giai đoạn khai sáng.

          Ngoài ra, có “Thất Giai Phật Danh”, lại gọi là “Lễ Phật Sám Hối Văn”, lại gọi là “Trú Dạ Lục Thời Phát Nguyện Pháp”, do đó mà trong Đôn Hoàng Di thư bảo tồn có các loại bản “Thất Giai Phật Danh” có số lượng tương đương. Tuy tên đề không thống nhất, hoặc xưng là “Thập Phương Lễ”, “Dần Triêu Lễ”, “Hoàng Hôn Lễ”, “Sơ Dạ Lễ”, nhưng chúng ta tiến thêm được một bước là hiểu rõ được ba bậc Lễ Sám đây là tư liệu rất quan trọng.

           Trong Tịnh Độ Tông có Đại sư Thiện Đạo soạn ra “Chuyển Kinh Hành Đạo Nguyện Vãng Sanh Tịnh Độ Pháp Sự Tán”, “Vãng Sanh Lễ Tán Kệ”, “Y Quán Kinh Đẳng Ban Chu Minh Tam Muội Hành Đạo Vãng Sanh Tán”, “Quán Niệm A Di Đà Phật Tướng Hải Tam Muội Công Đức Pháp Môn”. Sau này Đại sư Pháp Chiếu lại soạn ra “Tịnh Độ Ngũ Hội Lược Pháp Sự Nghi Tán”, “Tịnh Độ Ngũ Hội Niệm Phật Tụng Kinh Quán Hạnh Nghi”. Thiện Đạo và Pháp Chiếu đem Sám hối và lễ bái, tán thán, niệm Phật… kết hợp lại. Và cho rằng niệm Phật chính là Sám hối, đó cũng chính là biểu hiện sứ mạng lập trường của Tịnh Độ Tông.

          Hoa Nghiêm Tông có ngài Tông Mật soạn: “Viên Giác Kinh Đạo Tràng Tu Chứng Nghi” 18 quyển, gọi là Quảng Bổn. Sau đến đời Tống ngài Tịnh Nguyên lược làm 1 quyển xưng là lược bổn. Đến đời Đường pháp sư Nhất Hạnh soạn và chép thành “Hoa Nghiêm Kinh Hải Ấn Đạo Tràng Sám Nghi” 42 quyển. Đến đời Tống ngài Phổ Thoại thêm vào phần chú. Mật Tông có ngài Bất Không phiên dịch “Phật Thuyết Tam Thập Ngũ Phật Danh Lễ Sám Văn”. Đời Đường vào niên hiệu Khai Nguyên, Ngài Trí Thông tập thành “Tập Chư Kinh Lễ Sám Nghi” đây là các loại Sám nghi được tổng hợp khắc bản rất sớm.

          Đến đời Tống việc trước tác sám pháp tiến đến giai đoạn thạnh hành mà nhiều nhất là chư đại đức Tổ sư Tông Thiên Thai. Đương thời, có các Ngài thuộc Tông Thiên Thai nổi tiếng như: Tứ Minh Tri Lễ (960 – 1028), Từ Vân Tuân Thức (964 – 1032), Đông Hồ Chí Khánh (? - 1270) đều kế thừa Trí Khải đại sư và cho Lễ sám là nghi thức quan trọng để tu tập Chỉ Quán cho nên chuyên môn chế tác theo sự Sám nghi, do đó mà nhiếp hóa đạo tục. Vì thế mà Tri Lễ trụ ở chùa Diên Khánh mấy mươi năm ngoài việc giảng học ra, Ngài chuyên môn tu tập Sám Pháp. Tổng cộng tu tập Pháp Hoa Sám Pháp 21 ngày là một kỳ, trước sau tổng cộng 5 laàn. Kim Quang Minh Sám Pháp 7 ngày là một kỳ, trước sau 20 laàn. Di Đà Sám Pháp 7 ngày là một kỳ, tổng cộng 50 biến. Thỉnh Quan Âm Sám 49 ngày là một kỳ, tổng cộng 8 laàn. Đại Bi Sám Pháp 21 ngày là một kỳ, tổng cộng 10 laàn. Đồng thời Ngài còn thỉnh 10 vị Tăng đúng như nghi pháp mà hành trì Pháp Hoa Sám Pháp kéo dài suốt 3 năm. 10 vị Tăng tu tập Đại Bi Sám Pháp 3 năm, dốc hết sức mình tu tập hành đạo. Ngài còn sáng tác ra: Kim Quang Minh Tối Thắng Sám Nghi, Đại Bi Sám Nghi, Tu Sám Yếu Chỉ, mỗi loại 1 quyển. Năm thứ 5 đời Tống Thiên Hi, bấy giờ Ngài đã bước vào tuổi 62, nhận lễ thỉnh của Hoàng Đế Chơn Tông vì quốc thới dân an mà cử hành Pháp hội, cung lễ Pháp Hoa Tam Muội 3 ngày đêm. Đồng thời nhận đội thị (Thái Giám, nội điện đầu) Dũ Nguyên Thanh thỉnh cầu giải thoát, Tri Lễ làm hiển minh công dụng tu Sám pháp và phương pháp tu trì, sáng tác ra “Tu Sám Yếu Chỉ” 1 quyển, được lưu hành ở đời.

           Ngài Tuân Thức và ngài Tri Lễ là đồng môn, ngài Tuân Thức ở chùa Từ Vân đất Hàng Châu, rộng tu Sám pháp được xưng là Từ Vân Sám Chủ. Ngài soạn ra “Kim Quang Minh Sám Pháp Bổ Trợ Nghi”, bổ sung cho rõ ràng bộ “Kim Quang Minh Sám Pháp” của ngài Trí Khải. Nhân vì sách Phương Đẳng Tam Muội Hành Pháp của ngài Trí Khải từ đời Đường về sau lưu hành sang hải ngoại và bị thất truyền. Cho nên đến đời Tống lúc tu tập Phương Đẳng Tam Muội thiếu đi sự chính xác mà lại được chỉ đạo hoàn thiện. Đến năm Hàm Bình thứ 6 đời Tống (1003) có vị Tăng nhơn Nhật Bổn tên là Tịch Chiếu mang đến sách này và soạn ra lời tựa, khắc bản lưu hành ở đời.

           Vị cao tăng Tông Thiên Thai tên Chí Khánh thời Nam Tống, ngoài việc viết bộ sách lịch sử trọng yếu của Phật giáo tên là “Phật Tổ Thống Kỷ” ra. Ngài lại ở Tứ Minh Đông Hồ soạn ra “Thủy Lục Pháp Hội Nghi Quỉ” thạnh hành ở đời. Ngoài ra, ngài Nguyên Chiếu soạn “Lan Bồn Hiến Cúng Nghi” 1 quyển, đây là một thể loại Sám pháp phát lộ sám hối cúng tiến vong linh.

           Vào đời Kim, Vương Tử Thành vựng tập Tịnh Độ nhân duyên trước tác thành “Lễ niệm Di Đà Đạo Tràng Sám Pháp” lược gọi là “Di Đà Sám Pháp” 10 quyển, Ngài y cứ vào thứ lớp nghi quỉ trong Lương Hoàng Sám không luận là lễ bái Phật hay là trình tự sám văn, đều rất giống với Lương Hoàng Sám, nói rõ sự thù thắng của Tông Tịnh Độ.

           Đồng thời Ngài dẫn dụng những tác phẩm của chư Tổ sư đại đức Trung Quốc và Kinh Luận của Tịnh Độ Tông, để nói rõ về sự thù thắng của Tịnh Độ. Đến năm Chí Thuận thứ 3 (1332) đời Nguyên, Tam Tạng nước Cao Li là Toàn Công phát động đại chúng quyên góp khắc bản và lưu hành rộng rãi ở đời.

          Năm đầu niên hiệu Hồng Võ đời Minh, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, nhiều lần ở Tưởng Sơn Nam Kinh thiết lập pháp hội để siêu độ vong linh đã chết trong thời chiến loạn cuối đời nhà Nguyên. Về sau, Sám pháp rộng rãi lưu hành, cử hành nghi thức Sám pháp, trở thành một trong những pháp sự trọng yếu của Tăng nhơn và tự viện. Nhân vì Tăng nhơn ứng phó sự thỉnh cầu của tín đồ mà làm pháp sự, thế nên gọi là ứng phó Tăng. Nhân lúc phóng Diệm Khẩu, nhất định phải thực hành Du Già Tam Mật Hành Pháp, phóng Diệm Khẩu là một Phật sự lưu thông thạnh hành ở đời cho nên người hành sự cũng được xưng là Du Già Giáo Tăng, lược xưng là Giáo Tăng. Năm thứ 15 (1382) niên hiệu Hồng Võ, Minh Thái Tổ đem các tự viện trong thiên hạ phân làm Thiền, Giảng, Giáo gồm có 3 loại như thế. Và ở tại chùa Năng Nhơn đất Nam Kinh thiết lập ứng cúng đạo tràng, ra mệnh lệnh Tăng nhơn trong các tự viện dù lớn hay nhỏ thực hành việc ứng phó, phải tập trung lại học tập, đem Phật Sự Khoa Nghi hệ thống trở lại, đồng thời lại bổ sung thêm một vài khoa nghi mới. Năm thứ 16 niên hiệu Hồng Võ (1383) do Tăng Lục Ty, ban bố qui định mới về Phật Sự Khoa Nghi. Thế là việc ứng phó kinh sám Phật sự trở thành việc trọng yếu trong nhiều tự viện.

           Đến cuối đời nhà Minh có rất nhiều cao Tăng xem Sám Pháp thấy chưa được hoàn chỉnh như Pháp, nên thay đổi mới và chỉnh sửa lại. Ngài Vân Thê Châu Hoằng chỉnh sửa lại bộ Thủy Lục Đạo Tràng Nghi Quỉ và Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi và soạn ra bộ Thí Thực Bổn Chú, thuyết minh việc thực hành Thủy Lục và Diệm Khẩu bấy giờ nên phải chú ý.

           Qua việc đề xướng của Ngài Vân Thê Châu Hoằng khiến sự Sám pháp có ảnh hưởng dần dần lan rộng ra. Do đó mà xuất hiện rất nhiều nghi Sám pháp mới. Như ngài Thọ Đăng Pháp Sư đời Minh soạn ra “Chuẩn Đề Tam Muội Hành Pháp” và “Dược Sư Tam Muội Hành Pháp” mỗi loại 1 quyển. Ngài Trí  Húc soạn “Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo Kinh Hành Pháp”, “Tán Lễ Địa Tạng Bồ Tát Sám Nguyện Nghi” mỗi loại 1 quyển. Ngài Thiền Tu soạn “Y Lăng Nghiêm Cứu Cánh Sự Sám” 2 quyển. Ngài Như Tinh soạn “Đắc Ngộ Long Hoa Tu Chứng Nghi” 4 quyển. Đời Thanh có ngài Hạ Đạo Nhơn biên tập “Chuẩn Đề Phần Tu Tất Địa Sám Hối Huyền Văn” 1 quyển, “Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Sám Pháp” 3 quyển, “Từ Bi Địa Tạng Bồ Tát Sám Pháp” 3 quyển, nhưng các sách nầy đều không biết tên người soạn. Ngài Kế Tăng soạn “Xá Lợi Sám Pháp”. Ngài Hoằng Tán tập “Cúng Chư Thiên Khoa Nghi”. Ngài Kiến Cơ biên lục “Kim Cang Kinh  Khoa Nghi Bảo Quyển” mỗi loại 1 quyển. Ngài Trí Chứng biên lục “Thủy Sám Pháp Tùy Văn Lục” 3 quyển. Ngài Tây Tông tập chú “Thủy Sám Pháp Khoa Chú” 3 quyển…

            Mục đích chủ yếu của đại sư Trí Khải chế định ra Sám nghi là nương nhờ Lễ kính, tán thán, sám hối để an định vọng tâm, rồi sau đó mới tụng kinh tọa thiền, đây là hai phương tiện chánh quán thật tướng, thông qua hình thức tu hành này mà đạt đến sự chứng ngộ. Nhưng theo sự lưu hành Sám pháp, chỉ chú trọng Lễ sám, Sám hối, mà bỏ đi việc tụng kinh tọa thiền thì đây là bỏ gốc mà tìm ngọn, hoàn toàn mất đi ý nghĩa Sám pháp.

         Sám pháp là nghi tắc Sám hối lỗi lầm, lại còn là hành pháp tu tập chỉ quán, đều là pháp môn tu hành của Phật giáo đồ. Cho nên lúc cử hành pháp hội, Tăng chúng trước hết phải khai thị đại ý về Phật sự này và Tăng chúng cũng nên đúng pháp đúng nghi, theo lời kiền thỉnh mà đến, còn trai chủ cũng nên theo Tăng chúng cùng nhau tham gia lễ tụng, nhờ đó mà siêu tiến vong linh, cùng gội cam lộ pháp vị của Phật giáo vậy./.

—————————♦♦♦♦♦♦♦—————————

 

 

 

 

Những Bài Viết Liên Quan
492395
Total Visit : 390707
peuterey outlet piumini woolrich outlet woolrich outlet online woolrich outlet online woolrich outlet online doudoune moncler pas cher doudoune moncler pas cher doudoune moncler pas cher doudoune moncler pas cher doudoune moncler pas cher max maillots maillots de foot pas cher nike tn pas cher nike tn parajumper pas cher parajumper pas cher parajumper pas cher golden goose saldi golden goose saldi golden goose saldi golden goose saldi golden goose saldi golden goose saldi golden goose saldi