Nếu mình đối tốt với ai rồi mong muốn người ta cũng đối lại với mình như thế ấy thì chẳng phải đó là lòng tốt có toan tính hay sao?
1. Khi cảm thấy thất vọng về ai đó: Đừng vội buồn, đừng vội trách họ vì có thể đó chỉ là điều ta kỳ vọng vào họ mà không biết rõ “họ là ai” và “họ như thế nào”.
Và cũng có thể vì có chăng ta đang nghĩ cho mình nhiều quá, nghĩ người này người kia phải thế này thế khác với mình. Ở đời, đôi khi người ta hay lạm dụng quá điều mà dân gian hay nói “Bánh ít đi thì bánh quy lại”. Cái qua qua lại lại rồi sẽ dần đến “không qua không lại” nữa dưới con mắt và sự phán xét, đo lường duy tâm bất duy lý và tham đắm của con người.
Nếu mình đối tốt với ai rồi mong muốn người ta cũng đối lại với mình như thế ấy thì chẳng phải đó là lòng tốt có toan tính hay sao? Mỗi người một bản thể, không nói đến cái ngã tầm phào, tôn trọng cái bản thể đó của nhau là đã đặt nhau vào vị trí quan trọng trong lòng rồi. Điều quan trọng là ở chỗ đừng để cho người khác thấy họ đang đối xử với một khúc gỗ, một tảng đá. Nhưng khi không suy lường và sự quan tâm cảm thông đủ lớn thì đá gỗ cũng trở nên hữu tri.
Không ai buộc mình phải quan tâm ai đó, nên xuất phát từ tấm lòng thì phải cưu mang luôn cả những điều thường tình ở đa số, vốn không phải kỳ vọng của người quan tâm. Thế mới nói, yêu thương một con người, một hoàn cảnh, một cuộc đời xa lạ với mình thật không dễ dàng. Và quan hệ đó, theo chữ tình, chữ nghĩa mà tồn tại dài lâu hay hạn hữu.
Nếu cứ đối với người bằng cái tâm nhỏ bé thì tình thương của mình chỉ đủ cưu mang những mong muốn và ước vọng của mình mà thôi, mong chi mà trải tỏa bao la được?…
2. Cũng như việc có người từng rất quan tâm và thiện chí với bạn, từng đề nghị giúp đỡ bạn việc này việc kia. Cho đến khi bạn khó khăn, bạn ngỏ lời nhờ xin giúp đỡ thì người ta bảo không thể giúp được lúc đó vì lý do này nọ.
Cuộc sống luôn chuyển biến không ngừng, nay trồi mai sụt, có lên có xuống… Người ta không giúp mình không phải vì người ta thay đổi hay không thiện chí mà vì lúc đó người ta không sẵn sàng và không đủ điều kiện. Có thể là như thế lắm chứ. Thế nên đừng vội trách mà hãy nhìn lại và thấy thương mới đúng, vì người ta cũng đang trong cảnh khó khăn và biết đâu chừng cũng đang cần sự giúp đỡ nào đó. Ta cũng thấy buồn khi không thể giúp được họ!
Như người ta thường nói, cuộc đời này thú vị vì không ai biết ngày mai của mình sẽ thế nào, việc gì sẽ xảy ra với mình. Chính vì thế, nếu hữu duyên có thể giúp đỡ nhau, đến bên nhau những lúc khốn khó thì cuộc sống mỗi người sẽ bớt méo mó, sẽ tròn trĩnh hơn. Còn giả ta vẫn cheo leo một mình giữa những bấp bênh của mình thì hãy can trường mà vượt qua, bằng cách này hay cách khác. Nói như thế không có nghĩa là bất chấp lợi mình thiệt người mà làm. Có nhân và có quả. Nhân, quả đó ta có thể kiểm soát được từ ngay trong hiện tại hôm nay.
Cuộc sống mà, ai cũng mong điều tốt đẹp nhất nhưng vạn sự chỉ là tương đối, có chăng là mọi thứ diễn ra không như ta mong muốn và kỳ vọng mà thôi. Trong hoàn cảnh nào, sự vụ nào cũng có lối đi, cũng có cách giải quyết. Chấp nhận sự tương đối cũng là đang bước trên con đường trung đạo, con đường bằng giữa muôn vàn thái cực và cực đoan trùng lấp chung quanh.
Ôn cố tri tân, Phật dạy: “Hải đảo tự thân” hay “Sừng sững như tê giác một mình xuống núi” phải chăng là thấp thoáng nghĩa lý nào trong đó?
(St)
◊-◊—————————————————————————◊-◊
Tháng 7 là thời gian mà rất nhiều những thi ca, rất nhiều những thơ văn nói lên tình thương của cha mẹ đối với con cái. Trong Phật giáo tháng 7 là thời gian Tự Tứ của chư tăng và cũng là mốc thời gian mà ngày xưa Tôn giả Maudgalyāyana Sthavira, Mahāmaudgalyāyana, Moggallāna Thera, Mahāmoggallāna, 目犍連 Mục Kiền Liên sau khi tu chứng đạo quả Ngài chạnh lòng nhớ đến ân đức của mẹ và muốn tìm để xem mẹ mình ở đâu. Khi Ngài thấy bà bị đọa trong cái cảnh giới đau khổ nơi địa ngục với lòng hiếu kính muốn cứu mẹ nhưng bất lực. Một mình không thể làm công việc đó cho nên Ngài trở về bạch với Phật và Đức Phật dạy “Nhơn thời gian chư tăng Tự Tứ kết thúc 3 tháng hạ, thầy hãy đảnh lễ chư tăng và thỉnh các thầy gia tâm chú nguyện, sớt bát vì mẹ mà cúng dường”. Nhờ lòng hiếu của Tôn giả Mục Liên, nhờ đạo lực thanh tịnh của chư tăng, năng lượng đó tác động đến bà Thanh Đề và giúp cho bà chợt tỉnh ra, thấy rõ những nguyên nhơn mà lúc còn sanh tiền của bà đã gây quá nhiều những khổ đau từ tâm bỏn xẻn, tham lam cho đến những hành động xúc phạm đến những bậc tu hành. Đó là những nguyên nhơn mà đưa bà đến khổ đau. Nhờ lòng hiếu của Tôn giả Mục Liên vì mẹ mà cúng dường, tu tập, chư tăng cũng vì thương ngài Mục Liên cho nên thọ nhận những lễ phẩm và hồi hướng đến bà, đem tâm nguyện tu tập của mình để nghĩ đến bà. Chính những đạo lực tác động làm cho bà thay đổi suy nghĩ, việc làm và lời nói. Đông lực chuyển hoá đó giúp cho bà được giải thoát cảnh giới đau khổ và được sanh về cảnh giới an lành của chư thiên.
Đã hơn 2000 năm, gương hiếu của Tôn giả Mục Kiền Liên vẫn là một hình ảnh đẹp trong lòng người con Phật. Mỗi khi Vu Lan về, không ai gọi ai, mọi người đều lắng lòng thanh tịnh, cùng nhau tu tập để dâng tặng những phước báu, công đức mà mình chế tác ra trong những thời gian tu tập có được dâng lên để cúng dường cha mẹ.
Người còn tại thế:
Thân tâm yên ổn,
Phát nguyện tu trì.
Kẻ đã qua đời:
Ác đạo xa lìa,
Chóng thành Phật quả.
Đó là một nét đẹp của Phật giáo. Nét đẹp của người con Phật và cũng chính là nét đẹp nhơn văn của dân tộc Việt Nam của những trái tim những người con biết hiếu thảo khắp năm châu trên thế giới. Hôm nay, chúng ta sẽ nói chuyên đề về đề tài đó.
盂蘭 Vu Lan nói cho đủ là 盂蘭盆 Vu Lan Bồn. Đấy là chúng ta phiên âm từ cái chữ là Ullambana 烏藍婆拏 Ô-lam-bà-noa, mình phiên âm là 盂蘭盆 Vu Lan Bồn. Câu này có nghĩa là 解倒懸 giải đảo huyền hay là 救倒懸 cứu đảo huyền. Chữ 懸 huyền là treo, cái gì treo lên rồi là 懸 huyền mà 倒 đảo là ngược. Những cảnh khổ đau, khó chịu bị đâm, bị chặt, bị chém, bị nướng, bị cắt mổ ở địa ngục mà chúng sanh tạo nghiệp xấu phải chịu lấy những hậu quả mà họ đã gây tạo cho người khác. Cảnh khổ đau đó rất khó khó chịu giống như nỗi khổ mà bị treo ngược dọng đầu xuống đất được kéo chân lên. Sự khổ đau ở địa ngục khó chịu giống như nỗi khổ của những người bị treo ngược. 解倒 giải đảo chữ 解 giải là mở ra, chữ 救 cứu là vớt là giúp. Vậy chữ Vu Lan có nghĩa là nhờ đạo lực thanh tịnh của chư tăng, của những người tu hành cộng với lòng hiếu thảo của con cháu. Năng lực đó tác động đến họ giúp cho người bị khổ đau chợt tỉnh ra. Họ quy hướng về Tam Bảo, phát tâm học tập và làm theo những việc làm hiếu kính, thảo thuận, bố thí, cúng dường giúp cho họ tháo gỡ được những tư duy cục bộ, những lời nói, những việc làm mà để lại hậu quả khiến cho họ phải bị đắm chìm trong cảnh giới đau khổ. Đạo lực đó giúp cho họ hóa giải, mở được cho nên gọi đó là 解倒懸 giải đảo huyền hay là 救倒懸 cứu đảo huyền chứ không phải nói 盆 bồn là cái chậu như chúng ta cắt nghĩa. Mặc dù là các thầy thọ thực hay có những cái bình bát nhưng 盂蘭盆 Vu Lan Bồn không phải 盆 bồn là chậu. 盂蘭盆 Vu Lan Bồn phiên âm từ cái chữ là Ullambana 烏藍婆拏 Ô-lam-bà-noa nghĩa là tháo gỡ những cái khổ cái khổ đau dằn vặt ray rứt. Người ta khó chịu giống như cái khổ bị treo ngược những cái khổ đau đó buông mở ra thoát khỏi ra.
Trong 報恩品第二 Báo Ân Phẩm đệ nhị Phẩm 2 Báo ân, 大乘本生心地觀經 Kinh Đại Thừa Bổn Sanh Tâm Địa Quán, 大唐罽賓國三藏般若奉詔譯 Đại Đường Kế Tân Quốc Tam Tạng Ban Nhược phụng chiếu dịch, đức Phật có nói là con người luôn luôn phải ghi nhớ đến bốn ân 世出世恩有其四種:一父母恩,二眾生恩,三國王恩,四三寶恩。如是四恩,一切眾生平等荷負。Thế xuất thế ân hữu kì tứ chủng nhất phụ mẫu ân, nhị chúng sanh ân, tam quốc vương ân, tứ Tam Bảo ân. Như thị tứ ân nhất thiết chúng sanh bình đẳng hà phụ.
Ân của thế gian và xuất thế gian có bốn bậc: Một là ân cha mẹ. Hai là ân chúng sanh. Ba là ân quốc vương. Bốn là ân Tam Bảo. Bốn ơn như thế, hết thảy chúng sanh đều bình đẳng gánh chịu.
Cha mẹ sanh thành dưỡng dục. Ân đó cao như trời vói không tới, sâu như bể nhưng mò không chạm. Dù chúng ta có phụng dưỡng, có chăm sóc như thế nào đi nữa vẫn dừng lại ở vật chất. Người Phật tử phải làm sao cho tinh thần cha mẹ lúc nào cũng an vui. Dù chúng ta có dâng cơm ăn áo mặc cho đầy đủ đi nữa, cha mẹ vẫn còn nỗi khổ sanh già bệnh chết, vẫn còn nỗi khổ của tâm thức. Nhiều khi bị phiền não, bị giận hờn, lo lắng đưa đến khổ đau. Cho nên, không gì hơn là phải giúp cho cha mẹ biết tu tập, biết nương tựa Tam Bảo, hướng thiện. Nhờ công đức của sự tu tập đó, mà cha mẹ mới có thể tháo gỡ được những phiền muộn, lo toan, bất an trong tinh thần. Vì vậy, ơn thứ nhất người Phật tử luôn luôn phải ghi nhớ là ân cha mẹ.
Thứ hai là ân chúng sanh tức là xã hội. Chúng ta có được đời sống như thế này chúng ta phải mang ân những sự đóng góp của mọi tầng lớp của mọi ban ngành trong xã hội. Nhờ có người thợ dệt cặm cụi từng sợi chỉ, nhờ có người thợ nhuộm nghiên cứu tìm ra một công thức, nhờ có người thợ may cho dù là may công nghiệp theo xã hội ngày nay vẫn là công sức đầu tư từ chất xám của họ. Do đó, chúng ta mới có được chiếc áo, có được phục sức trang nghiêm. Vì thế, chúng ta mặc chiếc áo phải nhớ người thợ dệt. 身披一 縷,常思織女之勞。Thân phi nhất lũ, thường tư chức nữ chi lao. Thân mình mặc một chiếc áo cho dù nó là áo gì, chúng ta phải nhớ ơn. Các thầy khoác mặc cà sa cũng phải nhớ ơn người thí chủ. Chúng ta phải nhớ ơn cha mẹ cực khổ làm lụng có tiền mua sắm quần áo cho con cái. Mặc dù là ta phải bỏ tiền mua nhưng đó thật sự là sự trao đổi rồi.
Ân người nông phu dãi nắng dầm mưa, trồng trọt, cày cấy gặt hái rồi ơn những người nấu ra nồi cơm, bữa ăn đó nữa. Cho dù nhà giàu có những người phục dịch nấu nướng nhưng phải biết ân. Do đó, 日食三餐,每念農夫之苦。Nhật thực tam xan, mỗi niệm nông phu chi khổ. Chúng ta bưng bát cơm, chúng ta phải thấy mồ hôi đổ trên ruộng lúa nhiều hơn hạt gạo, hạt cơm mà chúng ta đang có. Công sức như vậy nên phải biết ơn họ. Vì vậy, mỗi lần ăn cơm chúng ta chắp tay vái, xá không phải là một nghi lễ của tôn giáo hay là một hình thức gì cả mà nó chỉ là sự biết ơn. Điều này chúng ta cũng nên truyền bá đến con cháu chúng ta. Mà đó là văn hóa của người Việt Nam cho dù là chúng ta chắp tay hay là mời hay là bày tỏ. Do đó, ăn cơm trân quý từng hạt khóc, hạt gạo không để rơi đổ không phải nói là sợ nhơn quả ăn cơm rơi đổ rồi lại phải làm gà làm vịt mổ lại. Không phải dừng vậy thôi. Đó là giáo dục trân quý những phước báo mình có được, không có tiêu phí và bày tỏ sự biết ơn. Ăn cơm phải vét cho sạch cái bát đừng để thừa.
Lúc nhỏ chúng tôi học hòa thượng có dạy là ngày xưa chú tiểu được thầy giao cho đem y cà sa ra ngoài ao giặt mà để y cà sa xuống nó nổi phều lên mặt nước không tài nào giặt được. Chú lấy đá dằn nó cũng nổi. Chú bạch mới thầy con không giặt y được. Tại sao y cứ nổi lên trên mặt nước không thể nào giặt được. hòa thượng nói con xuống bếp lấy bốn hạt gạo con dằn bốn góc. Quả nhiên dằn 4 hạt gạo, y cà sa chìm xuống. 一米重如山。Nhứt mễ trọng như sơn. Một hạt gạo, một hạt thóc nặng như núi là nói ân đức, công lao nặng lắm. Cho nên nhà chùa có cái câu 今生不了道,披毛戴角還。Kim sanh bất liễu đạo, phi mao đới giác hoàn. Đời nay tu hành mà không nghiêm cẩn tinh chuyên, giữ giới, thoát ly sanh tử thì coi chừng 披毛戴角 phi mao mang lông 戴角 đái giác đội sừng làm những con vật giữ nhà, kéo xe, kéo cày để trả lại cái nợ mà chúng ta đã nhận của người ta. Chúng ta luôn luôn phải sợ hãi như vậy. Chính lúc chúng ta sợ tội, phước mới sanh. Giây phút mà tội sanh là vì chúng ta chúng ta coi thường vấn đề. Chúng ta nghĩ đó là việc bình thường nhưng thật ra rất là cẩn thận.
Vì vậy, ơn chúng sanh từ cây bút mực, từ trang giấy học trò, từng cái bàn, từng cái ghế, từng cái đồng hồ. Mỗi phương tiện tất cả đều có ân với nhau, đều thọ dụng từ công sức của người khác. Vì thế chúng ta phải biết ơn. Đi trên đường bằng phẳng như vậy cũng phải biết ơn những người làm giao thông, đường xá. Cái gì cũng phải biết ơn. Nhỡ vấp một cục đá nhỏ, đừng khó chịu mắng chửi. Tại mình đi thiếu chánh niệm, thiếu ý thức chứ không ai muốn như vậy cả.
Tất cả mọi thứ từ một ly nước sạch, có một bầu không khí trong lành để thở, có một cái tàng cây che mát, chúng ta phải nhớ ơn. Cho nên Đức Phật nói là tất cả chúng sanh đều có ơn lẫn nhau. Sống mà biết ơn đó mới là cách sống đẹp và có ý nghĩa. Do đó, người Việt Nam chúng ta bao giờ cũng đi kèm theo câu nói dạ cảm ơn, hay là dạ thưa. Chúng ta gọi dạ bảo thưa, trình thưa cái gì đều có từ dạ thưa. Dạ thưa bà, thưa anh, dạ cảm ơn. Đó là điều giới trẻ ngày nay nhiều khi các bạn quên, chúng ta cần phải giữ lại nét văn hóa đẹp của dân tộc. Đó là cái đẹp là nét đẹp nói lên sự biết ơn dù chỉ cần là muốn người ta xác định lại một vấn đề nhỏ thôi. Nhưng mình phải biết ơn huống hồ là mình thọ dùng. Cho dù là mình bỏ tiền ra phải cảm ơn từ điện, từ nước. Tất cả mọi thứ chúng ta phải biết ơn.
Thứ ba là ân quốc vương. Ngày xưa còn chế độ quân chủ thì có vua thì ngày nay không còn vua nhưng có vị lãnh tụ, có vị chủ tịch nước, có vị tổng thống. Những người lãnh đạo đất nước chúng ta phải biết ơn họ. Biết ơn cả những người chiến sĩ giữ biên cương, bờ cõi để bảo vệ lãnh thổ của quê hương của chúng ta. Nhờ đó mà chúng ta được bình yên. Chúng ta phải biết ơn đừng vì một lý do cá nhơn gì đó mà khó chịu, có những lời nói thái độ tổn âm đức của mình. Người tu luôn luôn phải cẩn ngôn, cẩn ý. Một việc làm, lời nói, hành động, đừng bao giờ để tổn âm đức. Mình nói một lời nói mà để người ta đau khổ là tổn âm đức. Người xưa có nói “Có đức mới mặc sức mà ăn”. Đừng ỷ chúng ta có tài. Có tài mà không có đức thì coi chừng. “Chữ tài liền với chữ tai một vần.” Trong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã dạy như vậy. Cho nên phải có đức và đừng làm một việc gì để tổn âm đức. Đối với các vị lãnh đạo, chúng ta luôn luôn phải biết ơn. Nhờ các vị gìn giữ sắp đặt làm cho xã hội được ổn định, trật tự. Nhờ đấy mà chúng ta có được cuộc sống yên ổn.
Và thứ tư là ân Tam Bảo. Nhờ có Chư Phật ra đời chỉ cho chúng ta con đường sáng, một phương pháp tu tập. Nhờ có giáo pháp của Đức Phật để lại nơi thế gian mà chúng ta biết đâu là đường tà để tránh, biết đâu là đường chánh để tu. Nhờ có những người xuất gia trì giới, sống phạm hạnh, đạo đức viên mãn, những đoàn thể tu học thanh tịnh. Đó là người thầy, người bạn để chăm sóc để hướng dẫn. Cho nên ta phải biết ơn Tam Bảo. Đức Phật ra đời như thái dương xuất hiện giúp cho chúng ta nhận diện rõ con đường nào đưa đến an vui, hạnh phúc. Nhờ thực tập theo lời Phật dạy mà chúng ta tìm thấy được chơn hạnh phúc cho nên biết ơn Tam Bảo. Tụng kinh, lạy Phật, ăn chay là vì chúng ta muốn thương yêu mình, muốn chăm sóc bản thân mình. Do đó, mình nguyện khép mình vào trong những phạm trù đạo đức chứ không ai bắt buộc ta hết. Chính những phạm trù đó đã làm nên Đức Phật khiến cho các Ngài được an vui giải thoát và Ngài dạy lại cho chúng ta. Chúng ta vì muốn giống Ngài mà chúng ta nguyện thực tập. Thờ Phật, lạy phật, cúng dường Phật hay thờ tổ tiên ông bà chúng ta cũng là bày tỏ lòng biết ơn. Chúng ta mượn lễ phẩm để nói lên tấm lòng thơm thảo của mình.
Khi nói về ân đức của cha mẹ, mỗi lần đọc kinh, sám Vu Lan nước mắt hai hàng, thấm áo xiêm, chạnh lòng, mỗi lần đọc đến đó là tự nhiên bị xúc động.
Cậy có công cha,
Chẳng quản yếu già,
Sanh nhai lam lũ.
Quyết cùng hoàn vũ,
Phấn đấu nuôi con,
Giáo dục vuông tròn,
Ðem đường học đạo.
Ðệ tử ơn sâu chưa báo,
Hổ phận kém hèn,
Giờ này quỳ trước đài sen,
Chí thành cung kính…
Tôi nghĩ chắc ai cũng có mẹ cha hết. Những lời kinh làm cho hạt giống hiếu kính ở trong ta trỗi dậy. Chính hạt giống hiếu kính làm tiền đề để ta biết rằng ta phải nói năng, làm việc, suy nghĩ như thế nào thì ta mới có hạnh phúc. Những hạnh phúc là vì ta còn mẹ cha. Hạnh phúc là ta nghĩ đến mẹ cha ta. Người ta có thể giữ lại màu sắc bằng thuốc nhuộm nhưng một khi chúng ta cài lên áo đoá hoa màu trắng rồi thì không thể nào có màu sắc nào thay đổi. Người đó đã mất cha mất mẹ rồi.
Đó là một việc làm mang tính nhơn văn nhắc nhở đến hạnh phúc đến điều kiện hạnh phúc đang có mặt với ta. Cho nên ta trân quý, đừng để mất đi rồi mới ân hận, nuối tiếc. Nhiều khi sống chung, ở cùng với cha mẹ trong gia đình mà chúng ta không có những cử chỉ, lời nói làm cho cha mẹ mỉm cười. Phải đợi đến cha mẹ mất rồi bất chợt một ký ức, một kỷ niệm ùa về, một bài hát ngân lên hay là một hình ảnh thoáng qua, chúng ta mới hối hận. Vì thế, hãy sống sâu sắc, đúng nghĩa là một người con Phật.
Mẹ hay má hay mợ, người Trung Hoa gọi mẹ là 妈妈 māmā, văn cổ gọi là 母親 mǔqīn, búchhin, mẫu thân. Người phương Tây gọi mẹ là mother, mum, mom, mamma, mammy, mère. Sao nó lạ là cùng ở phụ âm, âm môi m là âm mà chỉ cần mở môi là có thể phát âm được (như “m” hay “b”) – bởi vậy âm này rất dễ được trẻ con “bập bẹ” nói trong những năm tháng đầu đời. Mặc dù Việt Nam chúng ta cũng có rất nhiều từ hay để gọi mẹ như bu, bầm, u, mạ, má, mệ nhưng mẹ là một từ thân thương lắm. Tiếng nói, âm thanh đầu tiên của người con, của đứa bé lọt lòng đầu tiên nó bật lên là mẹ. Cho nên vai trò của người mẹ không chỉ là mẹ mà mẹ có khi đóng vai một người bạn, một người đầu bếp giỏi, một bác sĩ giỏi, một nhà tâm lý học, hay là một nhà quản lý tài giỏi. Nhiều khi mẹ phải làm bạn với con, lắng nghe con chia sẻ, con mới thỏ thẻ. Mẹ phải hạ vị trí của mình xuống để hiểu con và đồng hành với con còn ngồi ở trên mà sai biểu là con né tránh hết. Thế hệ của cha mẹ cách con hơn 20 năm. Để gần gũi, quan tâm, chăm sóc, người mẹ thấy con đang ngồi chơi là lại gần nói chuyện giống như một người bạn vậy. Bởi thế nên nhiều khi người mẹ đóng vai trò còn là một người bạn của con.
Mẹ là một người đầu bếp biết con thích ăn món đó nên kh