Chủ nhật, ngày 11 tháng 4 năm 2021
"Sống không giận, không hờn, không oán trách. Sống mỉm cười với thử thách chông gai. Sống vươn lên theo kịp ánh ban mai. Sống an hòa với mọi người chung sống"

Quyển thượng

Quyển thượng Sách:

KHẮC IN LẠI “LỊCH ĐẠI PHÁP BẢO KÝ”

Quyển thượng

(Còn gọi là “Sư Tư Chúng Mạch Truyện”, “Định thị phi tồi tà hiển chánh phá hoại nhất thiết tâm truyền” và “Tối thượng thừa đốn ngộ pháp môn”, Kê Lâm Kim Cửu kinh, Minh Thường hiệu đính).

Xét trong các kinh Bổn Hạnh, kinh A Hàm, kinh Phổ Diệu, kinh Ứng Thụy, kinh Văn Thù Sư Lợi Niết Bàn, kinh Thanh Tịnh Pháp Hạnh, kinh Vô Cấu Quang Chuyển Nữ Thân, kinh Quyết Định Tỳ Ni, kinh Đại Phật Đảnh, kinh Kim Cang Tam Muội, kinh Pháp Cú, kinh Phật Tạng, kinh Anh Lạc, kinh Hoa Nghiêm, kinh Đại Bát Nhã, kinh Thiền Môn, kinh Niết Bàn, kinh Lăng Già, kinh Tư Ích, kinh Pháp Hoa, kinh Duy Ma, kinh Dược Sư, kinh Kim Cang Bát Nhã, kinh Phó Pháp Tạng, kinh Đạo Giáo Tây Thăng, truyện Thích Pháp Lâm, Thích Hư Thật ký, Khai nguyên Thích giáo, Châu Thư dị ký, truyện Hán Pháp Nội, truyện Doãn Hỉ Nội, Mâu Tử, Liệt Tử, Phù Tử, Ngô Thư, Tinh Cổ Lục và Dương Lăng Già Dĩnh Đô cố sự …

Năm thứ ba niên hiệu Vĩnh Bình (60) thời Hậu Hán Minh Đế, vua nằm mộng thấy người bằng vàng, thân cao một trượng sáu thước (Tàu), có vầng hào quang rực sáng phía sau gáy, bay liệng ở sân điện. Sáng sớm, vua đem hỏi các triều thần: “Đó là điềm gì?”. Thái sử Phó Nghị   tâu: “Ở Tây phương, có bậc đại thánh, gọi là Phật, chính là hình tượng này vậy!”. Minh Đế hỏi rằng: “Vì sao mà biết?”. Thái sử Phó Nghị đáp: “Trong bộ Châu Thư dị ký chép: Phật sanh năm Giáp Dần, thời Chiêu Vương. Phật diệt độ năm Nhâm Thân, thời Mục Vương. Một ngàn năm sau, giáo pháp của Ngài sẽ lưu truyền đến đất Hán, chính là lúc này vậy!”. Minh Đế bèn sai các ông: lang trung Thái Âm, bác sĩ Tần Cảnh… đi sứ sang nước Thiên Trúc, thỉnh được tượng Phật, hình tượng bồ tát và kinh Tứ Thập Nhị Chương; lại thỉnh được hai vị pháp sư là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan. Minh Đế thỉnh họ lên điện đường để cúng dường và xây dựng chùa Bạch Mã ở phía Tây thành Lạc Dương.

Ngày mùng 1 tháng Giêng năm thứ 14, niên hiệu Vĩnh Bình, các đạo sĩ ở Ngũ Nhạc, Hoắc Sơn và Bạch Lộc Sơn là nhóm Trữ Thiện Tín, Bí Trai Tài … cả thảy là 690 người, dâng biểu tâu vua rằng: “Chúng thần nghe Thái Thượng vô hình, hư vô tự nhiên, thượng cổ đồng tôn, trăm vua không đổi. Nay bệ hạ bỏ gốc mà chạy tìm ngọn, cầu giáo ở Tây Vực, coi trọng Hồ thần, chẳng xét kỹ lời lẽ của họ. Chúng thần ở xứ Hoa Hạ này, phần nhiều có tư chất thông tuệ, rộng xem khắp kinh điển. Vậy xin bệ hạ cho phép chúng thần cùng so tài với họ. Nếu có thắng thì xin trừ bỏ điều dối trá, còn nếu  chẳng được thế thì sẽ tùy nghi quyết định lại”. Vua phán rằng: “Chuẩn y”, vua bèn hạ lệnh quan hữu ti dọn bày đồ cúng đầy đủ, cùng với quan liêu văn võ trong ngoài, từ hàng ngũ phẩm trở lên, đến rạng sáng ngày rằm, nhóm họp ở chùa Bạch Mã. Đạo sĩ thì ở ngoài cổng chùa, bố trí ba đàn và mở ra 24 cửa. Vua bày Xá Lợi, kinh cùng tượng Phật ở ngoài cổng phía Nam chùa và phụng đặt trên điện tạm làm bằng bảy báu. Bọn ông Trữ Thiện Tín và Bí Trai Tài đem kinh Đạo giáo, sách Chư Tử và phù chú đặt trên đàn cúng, dùng lửa mà chứng nghiệm và thương cảm rơi lệ mà khấn rằng : “Hồ thần làm rối loạn Hoa Hạ, xin Thái Thượng Thiên Tôn biểu thị cho chúng sanh biện được thật giả”. Đạo kinh, Tử thư, phù thuật … gặp lửa bị thiêu cháy thành tro. Các đạo sĩ sững sờ, người đầu tiên định bay lên trời nhưng bay không được, người đầu tiên định ẩn hình nhưng ẩn không được và người đầu tiên định vào trong lửa nước nhưng không dám vào. Người niệm chú, kẻ kêu gọi sai khiến đều không thể ứng. Mọi thứ công năng đều không thể nghiệm được ! Trữ Thiện Tín, Bí Trai Tài … tự cảm mà chết đi!

Khi ấy, Xá Lợi của Phật phóng ra ánh sáng năm màu, xoay vần như dù lộng, trùm khắp cả đại chúng, ánh sáng che lấp cả vầng mặt trời. Pháp sư Ma Đằng nằm ngồi ở hư không, thần hóa tự tại, trời mưa hoa báu và trỗi các thứ âm  nhạc trời. Trúc Pháp Lan dùng Phạm âm khen ngợi, pháp sư Ma Đằng nói bài kệ rằng :

Chồn rừng chẳng phải loài sư tử

Ngọn đèn chẳng phải ánh nhật nguyệt

Ao không thu chứa bằng biển cả

Gò không lởm chởm như núi cao.

Minh Đế rất hả dạ, bèn cho con cái các bậc công hầu từ ngũ phẩm trở lên cùng phu nhân xuất gia, sáu trăm người đạo sĩ cũng đầu Phật xuất gia. Trúc Pháp Lan tụng các kinh: Công Đức Xuất Gia, Phật Bổn Sanh… Minh Đế thật vui mừng, cả nước đều quy y theo Phật giáo.

Hán Minh Đế hỏi hai sư rằng: “Phật gọi là vua của các pháp, thế sao Ngài không sanh ở đất Hán?”. Pháp sư Ca Diếp Ma Đằng đáp: “Thành Ca Tỳ La Vệ là trung tâm của trăm ức mặt trời mặt trăng, là chủ của Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Tất cả rồng thần có phước đều sanh ở nước ấy, cho nên đấng Pháp Vương phải sanh ở nước Thiên Trúc”.

Minh Đế lại hỏi rằng: “Giòng họ của Phật là ai, khi nào sanh và lúc nào diệt?”. Pháp sư Ma Đằng đáp: “Phật vốn là cháu đời một ngàn của Kim Luân Vương, con vua Tịnh Phạn, họ Cù Đàm, cũng gọi là giòng họ Thích. Ngày 15 tháng 7 năm Quý Sửu, từ cung trời Đâu Suất, Ngài giáng hạ thác vào trong thai của phu nhân Ma Da. Đến mùng 8 tháng 4, ở vườn Lâm Tỳ Ni, Ngài đản sanh bên hông phải của phu nhân Ma Da; lại có 500 giòng họ Thích, 500 bạch mã kiền trắc, xa nặc… cùng lúc với Phật đồng sanh vào  mùng 8 tháng 4, mùng 8 tháng 2 năm Nhâm Thân thì vượt thành xuất gia, ngày 15 tháng 2 năm Quý Mùi thì nhập Niết Bàn. Phật tuy không sanh ở đất Hán, nhưng một ngàn năm hay năm trăm năm sau, vì chúng sanh có duyên nên Ngài bảo các thánh đệ tử hành hóa tại nơi ấy trước tiên.

Xét trong kinh Thanh Tịnh Pháp Hạnh có chép: “Nhân dân nước Chân Đán ở phía Đông Bắc Thiên Trúc, phần đông không có lòng kính tin và kẻ tạo tội cũng nhiều. Nay ta trước sai ba vị thánh đệ tử đều là bồ tát, thị hiện tại nước ấy mà hành hóa: Ma Ha Ca Diếp xưng là Lão Tử, Quang Tịnh Đồng Tử hiệu là Trọng Ni và Minh Nguyệt Nho Đồng gọi là Nhan Hồi, bàn giảng ngũ kinh, thi thơ, lễ nhạc, cung cách và phép tắc để dụ hóa dần dần, rồi sau kinh Phật sẽ truyền đến ”.

Xét sách Mâu Tử có chép: “Khi xứa, hoàng đế Hiếu Minh nhà Hán, đêm nằm mộng thấy thần nhân, thân có vầng hào quang, bay đến trước điện, trong ý mừng rỡ, lòng rất vui vẻ. Hôm sau, vua truyền hỏi khắp các quần thần: “Đây là vật gì?”. Có vị quan Thông sự Xá nhân Phó Nghị tâu rằng: “Thần nghe ở nước Thiên Trúc, có người đắc đạo, hiệu là Phật, bay liệng nhẹ nhàng, thân có hào quang. Thần e rằng người trong mộng chính là vị thần ấy”. Thế là vua tỏ ngộ, bèn sai sứ giả là Trương Khiên, Vũ Lâm lang trung Tần Cảnh, bác sĩ đệ tử Vương Tôn … cả thảy 12 người tại nước Đại Nguyệt chép lấy 42 chương kinh Phật, cất ở gian thứ 14 trong thạch thất Lan Đài. Lúc ấy, vua còn cho dựng chùa Phật ngoài cửa Tây Ung thành Lạc Dương. Trên vách chùa, có vẽ muôn ngựa ngàn xe của triều đình quấn 13 vòng xung quanh tháp. Lại nữa, ở Thanh Lương đài, tại Nam Ung và trên cửa thành Khai Dương, có vẽ hình tượng Phật. Khi Hán Minh Đế còn tại thế, vua biết mạng sống là vô thường nên trước tạo thọ lăng. Lăng ấy gọi là Hiển  Tiết. Trên lăng, cũng có vẽ tượng Phật. Khi vua chưa băng hà, đất nước thịnh vượng, nhân dân an hòa. Các man mọi ở xa mộ nghĩa đến để nương nhờ ân đức và xin làm thần thuộc thì kể có số ức, cho nên mới gọi thụy hiệu là “Minh” vậy! Từ đó trở về sau, xung quanh kinh thành và các châu huyện, nơi nơi đều có chùa Phật, người học đạo do đây mà đông dần (theo bổn hiệu đính của Bình Tân quán và Tử Thư bách gia).

Tấn thư chép : “Thời Hoàn Đế nhà Tấn muốn san trừ Phật pháp, cho nên mời pháp sư Viễn Công ở Lư (Lô) Sơn đến. Vua hỏi : “Gần đây, Trẫm thấy tăng ni giới hạnh không thuần khiết, phần nhiều thì hủy phạm. Vậy Trẫm muốn san trừ gạn lọc, việc này giờ đây nên chăng?”. Viễn Công đáp: “Núi Côn sanh ra ngọc vẫn còn lẫn với đất cát, sông Lệ tuy nhiều vàng nhưng cũng lộn tạp với ngói gạch. Bệ hạ chỉ được kính pháp trọng người, chứ không thể khinh người mạn pháp”. Vua Tấn mới đại xá.

Tiêu Lương Võ Đế hội họp tam giáo nói rằng: “Ta thuở nhỏ học Châu Lễ, tuổi thiếu niên học hết lục kinh; trong thời gian đó còn xem khắp sách đạo Lão, cả hữu danh lẫn vô danh; đến tuổi về già mới mở trang sách Phật, thấy như mặt trời soi sáng các vì sao”.

Xét trong kinh Hoa Nghiêm có chép: “Tất cả chư Phật khi ở ngôi bất thối hoặc khi còn làm Bồ tát, hoặc làm Thanh văn, hoặc làm Chuyển luân Thánh vương, hoặc làm Ma vương, hoặc làm Quốc vương, đại thần, cư sĩ, trưởng giả, thể nữ, bá quan, đại lực quỷ thần, thần núi, thần rạch, thần sông, thần biển, thần chủ mặt trời, thần chủ mặt trăng, thần chủ ngày, thần chủ đêm, thần chủ lửa, thần chủ nước, tất cả thần lúa mạ, thần cây và cả các ngoại đạo đều dùng đủ các thứ phương tiện để giúp đỡ Đức Thích Ca Như Lai giáo hóa chúng sanh”.

Xét trong phẩm Đà La Ni trong kinh Đại Bát Nhã có chép : “Lúc bấy giờ, Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: Thế Tôn! Kinh điển Bát Nhã Ba La Mật Đa thật sâu xa như thế, vậy sau khi Phật nhập Niết Bàn thì phương nào sẽ được hưng thịnh?”. Phật nói: “Xá Lợi Phất, kinh điển Bát Nhã Ba La Mật thật sâu xa như thế! Sau khi ta nhập Niết Bàn, từ phương Bắc đến phương Đông Bắc dần dần sẽ được hưng thịnh, bởi vì phương ấy có nhiều tỳ kheo, tỳ kheo ni, sa di và sa di ni an trú trong Đại Thừa hay nương theo Bát Nhã Ba La Mật sâu như thế mà nhiều tin ưa”. Phật lại bảo Xá Lợi Phất : “Sau khi ta nhập Niết Bàn, sau thời phân chia 500 năm, Bát Nhã Ba La Mật Đa rất sâu xa như thế ở phương Đông Bắc làm mạnh Phật sự”.

Xét trong kinh Phó Pháp Tạng có chép: “Đức Thích Ca Như Lai sau khi diệt độ, chánh Pháp Nhãn phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp, Ca Diếp phó chúc cho A Nan, A Nan phó chúc cho Mạt Điền Địa, Mạt Điền Địa phó chúc cho Thương Na Hòa Tu, Thương Na Hòa Tu phó chúc cho Ưu Ba Cúc Đa, Ưu Ba Cúc Đa phó chúc cho Đề Đa Ca, Đề Đa Ca phó chúc cho Di Giá Ca, Di Giá Ca phó chúc cho Phật Đà Nan Đề, Phật Đà Nan Đề phó chúc cho Phật Đà Mật Đa, Phật Đà Mật Đa phó chúc cho Hiếp Tỳ Kheo, Hiếp Tỳ Kheo phó chúc cho Phú Na Da Xà, Phú Na Da Xà phó chúc cho Mã Minh, Mã Minh phó chúc cho Long Thọ, Long Thọ phó chúc cho Ca Na Đề Bà, Ca Na Đề Bà phó chúc cho La Hầu La, La Hầu La phó chúc cho Tăng Ca Na Đề, Tăng Ca Na Đề phó chúc cho Tăng Ca Da Xá, Tăng Ca Da Xá phó chúc cho Cưu Ma La Đà, Cưu Ma La Đà phó chúc cho Xà Dạ Đa, Xà Dạ Đa phó chúc cho Bà Tu Bàn Đà, Bà Tu Bàn Đà phó chúc cho Ma Noa La, Ma Noa La phó chúc cho Hạc Lặc Na, Hạc Lặc Na phó chúc cho Sư Tử Tỳ Kheo và Sư Tử Tỳ Kheo phó chúc cho Da Xá Bà Tư Dĩ. Cho nên, từ nước Trung Thiên Trúc đến nước Kế Tân, vua tên Di Đa La Quật không tin Phật pháp, hủy pháp, phá hoại chùa chiền, giết hại chúng sanh, vâng thờ bọn ngoại đạo Mạt Mạn Ni và Di Sư Ha. Lúc bấy giờ, Sư Tử Tỳ Kheo cố đến nước ấy để giáo hóa. Vua kia vô đạo, tự tay cầm gươm bén, nói rằng: “Nếu là thánh nhân thì các sư đây đều phải giới hạn hình hài”. Khi ấy, Sư Tử Tỳ Kheo thị hiện giới hình, thân tuôn ra sữa trắng. Còn Mạt Mạn Ni và Di Sư Ha đều bị chém chết như người phàm, máu tuôn vãy ra đất. Vua kia phát tâm qui y Phật, bèn bảo đệ tử của Sư Tử Tỳ Kheo (Sư Tử Tỳ Kheo trước phó chúc cho Xá Na Bà Tư Dĩ) vào nước Nam Thiên Trúc giáo hóa rộng rãi và độ thoát chúng sanh. Vua lại cho truy tìm các đệ tử của ngoại đạo Mạt Mạn Ni, Di Sư Ha…; tìm được rồi, bèn ở triều đường mà lập giá treo đầu, người trong cả nước đều đến bắn. Vua nước Kế Tân mới ra lệnh cho các nước lân cận rằng nếu có pháp này thì mau đuổi ra khỏi nước. Nhờ Sư Tử Tỳ Kheo mà Phật pháp lại hưng thịnh. Sau Xá Na Bà Tư phó chúc cho Ưu Bà Quật, Ưu Bà Quật phó chúc cho Tu Bà Mật Đa, Tu Bà Mật Đa phó chúc cho Tăng Già La Xoa, Tăng Già La Xoa  phó chúc cho Bồ Đề Đạt Ma La là đời thứ 29 (Thiền tông) ở nước Tây Vực. Nếu trừ Đạt Ma La thì chính là 28 đời vậy!

Có sa môn Tịnh Giác ở Đông Đô là đệ tử của thiền sư Thần Tú tại Ngọc Tuyền sơn, làm ra bộ “Lăng già sư tư huyết mạch ký” một quyển, quàng xiên cho là Cầu Na Bạt Đà La Tam Tạng ở triều Tống là Tổ thứ nhất; không biết căn do, làm rối rắm mê muội kẻ hậu học rằng ông ta chính là thầy của Đạt Ma tổ sư. Cầu Na Bạt Đà La vốn là người học đạo Tiểu Thừa và dịch kinh Tam Tạng, chứ chẳng phải là thiền sư vì đã dịch ra bốn quyển kinh Lăng Già, cũng chẳng phải là người khai thọ kinh Lăng Già cho Đạt Ma tổ sư. Đạt Ma tổ sư từ đới thứ 28 đầu đuôi truyền nhau, kế thừa Tăng Già La Xoa. Sau Huệ Khả đại sư đích thân ở Tung Cao sơn, chùa Thiếu Lâm, hỏi tổ sư Đạt Ma về việc kế thừa hồi trước, việc phó chúc truyền nhau, tự có lời văn ghi chép rõ ràng. Còn Tịnh Giác sư dẫn nhầm Cầu Na Bạt Đà La mà cho là Tổ thứ nhất (Thiền tông Trung Hoa). Thật là làm rối loạn cho người học pháp vậy!

Kinh Pháp Hoa có chép : “Không cho thân cận kẻ học nhân Tiểu Thừa Tam Tạng”. Tam Tạng Cầu Na Bạt Đà La dịch ra 4 quyển kinh Lăng Già, gọi là A Bạt Đà Bảo Lăng Già kinh. Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chi triều Ngụy dịch ra 10 quyển gọi là Nhập Lăng Già kinh. Những người trên đều là Tam Tạng dịch kinh, chứ chẳng phải là thiền sư vì các người ấy đều truyền giáo bằng văn tự, còn tông đồ truyền pháp của Đạt Ma tổ sư vốn không đem một chữ để dạy mà chỉ  “mặc truyền tâm ấn”.

Tổ thứ nhất, thiền sư Bồ Đề Đạt Ma Đa La triều Lương, là Thái tử thứ ba của vương quốc Nam Thiên Trúc, xuất gia từ nhỏ, sớm theo ý thầy, ngay nơi lời nói mà ngộ đạo, xiển hóa xứ Nam Thiên và làm Phật sự lớn. Khi ấy, Ngài quán thấy chúng sanh đất Hán có căn tánh Đại Thừa, bèn sai hai người đệ tử là Phật Đà và Da Xá qua đất Tần mà nói giáo pháp đốn ngộ. Các đại đức trong nước Tần vừa nghe liền hồ nghi, đều không tin nhận. Vì thế, hai sư bị đuổi ra ở chùa Đông Lâm – Lô (Lư) sơn.

Lúc đó, pháp sư Viễn Công hỏi: “Các đại đức đem giáo pháp gì đến mà bị đuổi ra vậy?”. Thế là hai vị Bà La Môn khoát tay, bảo Viễn Công: “Bàn tay làm nắm tay, nắm tay làm bàn tay. Việc đó có mau không?”. Viễn Công đáp:  “Rất mau”. Hai Bà La Môn nói: “Việc này chưa phải là mau. Phiền não tức Bồ Đề, đó mới gọi là mau”. Viễn Công thâm đạt ý chỉ, mới biết Bồ Đề và phiền não vốn không khác, liền hỏi: “Pháp này ở nước kia được học từ ai?”. Hai vị Bà La Môn đáp: “Học từ thầy tôi là Đạt Ma Đa La đấy!”. Khi Viễn Công đã tin sâu, hai sư liền dịch bộ kinh Thiền Môn một quyển, nói đầy đủ rõ ràng về thiền pháp của Tiểu Thừa và Đại Thừa. Người truyền pháp ở Tây Vực cũng được nêu dẫn ở lời tựa của “Thiền kinh”. Hai vị Bà La Môn dịch kinh xong, cùng diệt độ một ngày và được an táng tại Lư Sơn tháp miếu mà ngày nay còn thấy.

Đạt Ma Đa La nghe tin hai người đệ tử đi hoằng hóa ở đất Hán không được người tin nhận, bèn vượt biển đến triều đình nhà Lương. Lương Võ Đế ra tận ngoài thành để cung đón, mời lên điện đường và hỏi rằng: “Hòa thượng từ nước kia sang, đã đem giáo pháp gì đến để hoằng hóa chúng sanh?”. Đạt Ma đại sư đáp: “Ta không đem một chữ Giáo nào đến!”. Vua lại hỏi: “Trẫm xây chùa giúp người đi tu, chép kinh và đúc tượng. Việc ấy có công đức gì?”. Đại sư đáp: “Không có công đức gì cả! Đây chính là các điều thiện hữu vi, không phải là công đức thật!”. Võ Đế vì căn khí phàm tình nên không hiểu, sư bèn từ giã ra khỏi nước. Trông về phương Bắc, thấy có căn khí Đại Thừa, đại sư đi đến triều Ngụy, ngụ ở Tung sơn và tiếp dẫn chúng sanh được sáu năm. Người học tụ đến như mây tuôn mưa đổ và đông như lúa mè tre sậy, nhưng chỉ có Huệ Khả đại sư là nắm được phần tủy của Ngài.

Lúc bấy giờ, tại Ngụy có Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chi và luật sư Quang Thống tẩm độc trong thức ăn, rồi mang đến thết đãi đại sư. Đại sư ăn xong, bảo đem chậu tới mửa ra một thăng rắn. Lại lần khác thết đãi thức ăn tẩm độc, sư ăn xong, ngồi trên tảng đá to, chất độc thấm ra làm nứt cả tảng đá. Trước sau sáu lần đánh thuốc độc, đại sư bảo các đệ tử: “Ta đến đây vốn là để truyền pháp, nay đã có được người (Huệ Khả) truyền thừa, thì ở lâu nào có ích gì?”. Thế là đại sư truyền lại một chiếc cà sa để làm tin và nói với Huệ Khả: “Ta nhân việc truyền pháp mà bị ngộ độc, ngươi cũng không tránh khỏi nạn này. Pháp ta truyền đến đời thứ sáu, người được truyền pháp thì mạng như tơ treo”.

Nói xong, sư liền nhân ngộ độc mà qua đời. Ngày thường, sư thường tự nói: “Ta tuy năm nay 150 tuổi, nhưng thật cũng chẳng biết là mấy tuổi nữa!”. Đại sư nói: “Ở nước Đường, có ba người được pháp ta: Một người được tủy ta, một người được xương ta và một người được thịt ta. Được tủy ta là Huệ Khả, được xương ta là Đạo Dục và được thịt ta là Ni Tổng Trì”. An táng tại núi Hùng Nhĩ, đất Lạc Châu (nay là Hà Nam, huyện Lạc Dương).

Lúc ấy, Tống Vân nước Ngụy đi sứ gặp đại sư ở ngọn Thông Lãnh, tay quải một chiếc giày. Tống Vân hỏi: “Đại sư đi đâu?”. Đáp: “Ta trở về bổn quốc. Quốc vương của ngươi hôm nay qua đời”. Tống Vân liền ghi chép việc đó, rồi lại hỏi: “Đại sư nay ra đi, Phật pháp phó chúc cho ai ?”. Đáp: “Sau khi ta ra đi 40 năm, có một ông tăng người Hán, chính là người nối pháp vậy!”. Thế là Tống Vân trở về triều, vua cũ quả nhiên đã băng hà, vua mới vừa lên ngôi. Tống Vân bảo các triều thần: “Đại sư tay cầm một chiếc giày đi về nước Tây Vực. Ngài nói: Vua nước ông hôm nay mất. Thật đúng như điều đại sư đã nói”. Các triều thần đều chẳng tin, bèn cho đào mộ của đại sư, quả nhiên chỉ còn một chiếc giày!

Tiêu Lương Võ Đế tạo văn bia. Đệ tử có Bát Nhã Mật Đa La ở Tây quốc. Riêng ba người đệ tử ở nước Đường là Đạo Dục, Ni Tổng Trì và Huệ Khả thì chỉ có Huệ Khả là người thừa y đắc pháp.

Thiền sư Huệ Khả triều Bắc Tề là Tổ thứ hai, họ Cơ, người ở Võ Lao. Lúc 40 tuổi, thiền sư vâng thờ đại sư Đạt Ma sáu năm, trước có tên là Thần Quang. Buổi đầu vâng thờ đại sư, thiền sư suốt đêm đứng trước Ngài. Đêm hôm ấy, tuyết rơi nhiều, ngập đến thắt lưng, nhưng vẫn không dời chỗ. Đại sư nói: “A này, ngươi cầu pháp thì không tham tiếc thân mạng”. Thần Quang liền chặt đứt một cánh tay, tuôn ra sữa trắng. Đại sư liền mặc truyền tâm khế và trao cho Thần Quang một chiếc cà sa. Đại sư nói: “Ta nhân ở đây mà bị ngộ độc, ngươi cũng không tránh khỏi, phải khéo tự bảo hộ lấy!”. Huệ Khả đại sư hỏi: “Pháp này của hòa thượng ở Tây Vực, người nào sau khi được thừa kế thì cũng được truyền cà sa để làm tin chăng?”. Đại sư đáp: “Người ở nước Tây Vực rất kính tin, không có giả dối. Người mà ta kế thừa là Bát Nhã Ba La Mật Đa La. Sự truyền thừa sau nầy sẽ không còn truyền y nữa. Chúng sanh ở nước Đường có căn tánh Đại Thừa, dõi nối được đạo quả nên phải truyền cà sa để làm pháp tin; ví như ai rưới nước trên đảnh của Chuyển Luân vương tử thì được bảy món báu chân thật mà nối thạnh ngôi vua. Còn người được y này thì tiêu biểu cho chánh pháp đã truyền nối nhau”.

Đại sư Huệ Khả sau khi được phó chúc, ở ẩn tại hai châu Lạc Tương và Nghê Sơn trong 40 năm, về sau tiếp dẫn  quần sanh, kẻ đạo người tục theo về không kể xiết! Trải qua 20 năm trong lúc khai hóa, có loạn nạn dấy lên, lại bị loạn đảng của Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chi và luật sư Quang Thống muốn làm tổn hại đại sư Huệ Khả, sư phó chúc thiền pháp cho Tăng Xán xong, bèn vào ở ẩn trong núi Tư Không. Huệ Khả đại sư sau này giả vờ điên, ở ngã tư thành thị mà thuyết pháp. Chúng nhân nghe rất đông. Bọn đồ đảng của Bồ Đề Lưu Chi tâu lên vua, tố cáo Huệ Khả đại sư là yêu tinh quái dị. Vua ra lệnh cho quan sở ti xét hỏi đại sư Huệ Khả. Huệ Khả đại sư đáp: “Vâng, ta thật là yêu!”. Quan sở ti biết đám kia đố kỵ, ra lệnh cho Huệ Khả đại sư hãy nói lại thì Ngài cũng đáp xác thực rằng Ngài thật là yêu quái. Quan sở ti bèn ra lệnh cho quan huyện Thành An tên Địch Xung Khản y theo pháp mà xử hình. Đại sư Huệ Khả bảo chúng nhân rằng: “Pháp của ta truyền đến Tổ thứ tư thì hóa thành danh tướng”. Nói xong, Ngài đau buồn rơi lệ, bèn thị hình, thân tuôn ra sữa trắng, màu thịt vẫn như thường. Khi ấy, quan sở ti mới tâu lên vua. Vua nghe xong, ăn năn lỗi lầm, cho đấy đúng thật là Bồ tát ! Cả triều đình đều phát tâm, thế là Phật pháp hưng thịnh trở lại ! Lúc ấy, sư được 107 tuổi. Phần mộ an táng tại huyện Thành An, đất Tương Châu, cách Hà Bắc 5 dặm; phía Đông là Liễu Mãn, cách mộ 100 bộ; 15 dặm về phía Tây Nam là Ngô Nghê Tào Khẩu. Bộ “Lăng già dĩnh đô cố sự” chép đầy đủ.

Đệ tử Tăng Xán là người được truyền y đắc pháp. Về sau, Thích Pháp Lâm tạo ra văn bia.

Tổ thứ ba triều nhà Tùy là Tăng Xán, không biết người xứ nào. Ban đầu, khi mới gặp Huệ Khả đại sư, Tăng Xán thị hiện chứng bệnh đại phong, ở tại chúng mà tìm gặp Huệ Khả đại sư. Huệ Khả đại sư hỏi: “Ngươi từ nơi nào đến, nay cần việc gì?”. Tăng Xán đáp: “Con cố đến để nương thân nơi hòa thượng”. Đại sư nói : “Ngươi có bệnh đại phong, gặp ta nào có ích gì?”. Tăng Xán đáp: “Thân tuy có bệnh, nhưng tâm người bệnh và tâm hòa thượng thì không có sai khác!”. Đại sư biết Tăng Xán là người phi thường, bèn phó chúc pháp và cà sa để làm tin. Đại sư nói: “Ngươi phải khéo tự bảo hộ. Ta có nạn, ngươi phải lánh đó nghe!”. Tăng Xán đại sư cũng giả vờ điên nơi thị trấn, sau ẩn tại núi Tư Không ở Thơ Châu. Gặp thời Châu Võ Đế diệt Phật pháp, sư ở ẩn hơn 10 năm tại núi Nghê Công. Phía Bắc của núi này, phần nhiều là thú dữ, thường làm tổn hại người ở đấy, nhưng từ khi đại sư Tăng Xán đến thì chúng đều dời đi nơi khác. Ngài phó chúc pháp và cà sa cho Đạo Tín.

Thời sau này, có thiền sư Nghê, thiền sư Nguyệt, thiền sư Định và thiền sư Nghiễm đi đến chỗ đại sư Tăng Xán và nói rằng: “Sau khi Đạt Ma tổ sư phó chúc thì chính ông Xán quả thật là Ngọc Thần vậy! Định huệ đều dụng đủ, sâu xa không thể nghĩ bàn”. Tăng Xán đại sư bèn cùng với các thiền sư ấy đến núi La Phù ẩn cư ba năm. Về sau, đến kỳ đại trai hội, sư ra bảo chúng nhân rằng: “Nay, ta muốn ăn!”. Các đệ tử dâng thức ăn. Đại sư ăn xong, bảo mọi người rằng: “Mọi người đều xuýt xoa cho rằng ngồi qua đời là chuyện lạ, chỉ có ta mới tự do sanh tử!”. Nói rồi, đại sư một tay vịn cành cây trong hội, đứng an nhiên mà qua đời, cũng không biết là mấy tuổi! Tháp miếu ở bên cạnh chùa Nghê Sơn.

Đệ tử rất đông, nhưng chỉ có đại sư Đạo Tín là người được truyền y đắc pháp thừa hậu. Ông Tiết Đạo Hành soạn văn bia.

Thiền sư Đạo Tín là Tổ thứ tư triều Đường, họ Tư Mã, người đất Hà Nội, xuất gia từ tấm bé, nương thờ đại sư Tăng Xán. Đại sư biết Ngài là bậc pháp khí đặc biệt, ngày đêm thường ngồi không nằm; hơn sáu mươi năm, hông chưa hề dính chiếu, uy thần kỳ lạ, mắt thường nhắm không nhìn; nếu muốn nhìn ai, người đó phải sững sờ sợ hãi! Vào năm Đại Nghiệp, đại sư Đạo Tín ở xa trông thấy xứ Kiết Châu có giặc dữ bao vây thành, đã hơn 100 ngày, suối giếng khô cạn. Đại sư bèn vào thành khuyến dụ kẻ đạo người tục, khiến phải hành Bát Nhã Ba La Mật. Thế là giặc dữ tự rút lui, nước suối giếng trong thành lại chảy vọt ra, người theo học đạo rất đông. Đại sư Đạo Tín trông thấy từ xa nơi núi Phá Đầu, đất Huỳnh Mai, xứ Tân Châu, có tán mây màu tía, bèn ở núi ấy, sau đổi lại là núi Song Phong.

Năm Trinh Quán thứ 17, Hoàng đế Văn Vũ sai sứ đến núi Song Phong để thỉnh thiền sư Đạo Tín vào cung nội. Đạo Tín thiền sư lấy cớ tuổi già, từ chối không đi. Sứ giả trở về gặp vua tâu rằng: “Thiền sư Đạo Tín từ chối vì tuổi già nên không đi”. Vua lại sai sứ thỉnh một lần nữa. Người sứ đến chỗ thiền sư, nói rằng: “Vâng theo sắc lệnh vua sai thỉnh thiền sư”. Thiền sư lại từ chối, vì tuổi già nên không đi và nói với sứ giả rằng : “Nếu muốn lấy đầu ta thì mặc tình chặt mà đem đi, chứ lòng ta không chịu đi!”. Sứ giả trở về triều kiến và tâu vua rằng: “Cần đầu thì mặc ý chặt đem đi, chứ sư một lòng không chịu đi!”. Vua lại sai sứ mang đao đến giả vờ lấy đầu của thiền sư, vua còn căn dặn thêm là chớ nên làm tổn thương đến hòa thượng. Người sứ đến chỗ của hòa thượng, nói: “Vâng lệnh vua, xin lấy cái đầu của hòa thượng. Vậy thiền sư có chịu đi hay không?”. Hòa thượng đáp: “Ta dứt khoát không đi!”. Sứ giả nói: “Vâng lệnh vua, nếu thiền sư không đi thì tôi chặt đầu mang đi”. Đạo Tín thiền sư nghiêng đầu ra mà nói rằng: “Hãy chặt lấy!”. Sứ giả rút đao lại. Đạo Tín thiền sư nạt lớn rằng: “Sao không chịu chặt đi, còn đợi đến lúc nào nữa?”. Sứ giả nói: “Vâng lệnh vua không cho làm tổn thương đến hòa thượng”. Thiền sư Đạo Tín cười lớn: “Dạy ngươi biết nơi đây có người đấy!”.

Về sau, thiền sư Đạo Tín làm lớn Phật sự, rộng mở pháp môn, tiếp dẫn quần phẩm, bậc “Long tượng” bốn phương đều đến nhận quy y. Qua hơn 30 năm, chỉ có Hoằng Nhẫn là người vâng thờ đắc ý. Tổ phó chúc pháp và cà sa cho Hoằng Nhẫn xong, bèn sai đệ tử là sư Nguyên Nhất: “Hãy tạo ra một cái khám rồng bên sườn núi cho ta, nhưng phải sớm hoàn thành”. Sau đó, sư hỏi khám rồng xong chưa, sư Nguyên Nhất đáp: “Công việc xong rồi!”. Vào ngày nhuần 24 tháng 9 năm Vĩnh Huy thứ 2, đại sư vốn không đau ốm, lại an nhiên tọa hóa.

Năm ấy, sư được 72 tuổi. Sau khi an táng giáp năm, cửa đá vô cớ tự mở, dung mạo của đại sư trang nghiêm chẳng khác ngày thường. Nhóm ngài Hoằng Nhẫn thấy lại uy nghi thần kỳ, không khỏi cảm động, liền đem quấn vải sơn phết khắp tôn dung, rồi từ đó về sau không đóng tháp nữa.

Đệ tử rất đông, nhưng chỉ có đại sư Hoằng Nhẫn là người được truyền y đắc pháp để thừa kế về sau. Quan Trung thư lệnh Đỗ Chánh Luận soạn ra văn bia.

Thiền sư Hoằng Nhẫn là Tổ thứ năm triều Đường, họ Châu, ở Hoàng Mai. Bảy tuổi Ngài vâng thờ đại sư Đạo Tín; 13 tuổi thì vào đạo đắp y. Tánh Ngài rất mộc mạc, nói năng trầm hậu quê mùa, luôn bị đồng học khinh thường chọc ghẹo, nhưng sư vẫn im lặng không đáp, thường siêng năng làm việc và lấy lễ khiêm hạ mà đối với người. Ban ngày, sư hòa mình chịu sai biểu; đêm đến thì ngồi nhiếp niệm đến sáng mà chưa từng lười mỏi. Qua 30 năm, sư thường sát cánh bên đại sư Đạo Tín. Thân cao 8 thước (Tàu), vẻ mặt khác hẳn người thường.  Sau khi được phó pháp và truyền cà sa, sư ở núi Phùng Mậu, cách phía Đông núi Song Phong chẳng xa. Người đời gọi là Đông Sơn pháp môn, chính là núi Phùng Mậu, chứ chẳng phải là Tung Sơn!

Lúc ấy, có giặc dữ là Khả Đạt, Hàn Nô Lục… bao vây Châu Thành mấy vòng, không có lối vào, chim bay cũng chẳng thông. Từ xa nhìn thấy đại sư mới đến thành, lũ giặc tan tác rút lui. Chúng nói: “Có vô lượng Kim Cang thần cầm chùy đuổi theo chúng tôi, trợn mắt nghiến răng, nên bọn tôi phải tháo chạy”. Sau đó, Hoằng Nhẫn đại sư liền trở về núi Phùng Mậu.

Năm Hiển Thánh thứ 5, Đại đế ban sắc sai sứ sang đạo tràng Hoàng Mai ở núi Phùng Mậu để thỉnh Hoằng Nhẫn đại sư, nhưng đại sư không đến nơi thỉnh. Vua lại ban sắc sai sứ đến thỉnh một lần nữa, nhưng sư cũng không đến. Vua bèn sai ban cho y phục, thuốc men… đem đến núi Phùng Mậu mà cúng dường. Sau hơn 40 năm tiếp dẫn kẻ đạo người tục, bậc “Long tượng” bốn phương kéo về nương tựa. Đại sư phó chúc pháp và cà sa cho Huệ Năng.

Sau, đến năm Hàm Hưởng thứ 5, Ngài sai đệ tử là sư Huyền Trách: “Hãy dựng tháp cho ta!”. Đến ngày 14 tháng 2, sư hỏi tháp xong chưa. Đáp: “Xong rồi!”. Đại sư nói: “Không thể bát Niết Bàn ngày 15 tháng 2 cùng ngày với Phật được !”. Sư lại nói: “Ta một đời dạy người vô số. Ngoài Huệ Năng ra, còn có 10 người nữa là sư Thần Tú, sư Trí Sân, sư Nghĩa Phương, sư Trí Đức, sư Huyền Trách, sư Lão An, sư Pháp Như, sư Huệ Tạng, sư Huyền Ước và Lưu Chủ Bạc. Tuy ai cũng không lìa xa ta, nhưng mỗi người các ngươi vẫn là thầy của một phương vậy!”. Sau, đến ngày 11 tháng 2 năm Thượng Nguyên thứ 2, sư an nhiên tọa hóa. Năm ấy, Hoằng Nhẫn đại sư được 71 tuổi.

Đệ tử Huệ Năng là người truyền y đắc pháp kế thừa sau đó. Học sĩ Lữ Khâu Quân soạn ra văn bia.

Tổ thứ sáu triều Đường ở Tào Khê – Thiều Châu, là thiền sư Huệ Năng, họ Lư, người đất Phạm Dương. Cha làm quan ở ngoài Ngũ Lãnh, sư theo cùng, sau ngụ ở Tân Châu. Năm 22 tuổi, sư đến núi Phùng Mậu tham lễ với đại sư Hoằng Nhẫn. Đại sư hỏi: “Ngươi từ nơi nào đến?” Huệ Năng đáp: “Con từ Tân Châu đến, chỉ cầu làm Phật”. Đại sư nói: “Ngươi ở Tân Châu là dân mọi Cát Liêu, làm Phật thế nào được!”. Huệ Năng đáp: “Thân tuy là Cát Liêu, nhưng Phật tánh nào có khác chi hòa thượng!”. Đại sư biết khả năng của Lư hành giả, muốn cùng Ngài nói thêm ít điều, nhưng vì mọi người ở hai bên quá đông, bèn bảo Huệ Năng hãy theo chúng mà đạp chày giã gạo. Suốt tám tháng, tiếng chày vẫn đều đặn, không thay đổi. Hoằng Nhẫn đại sư liền gỏ lên trên cối, nói mí. Huệ Năng liền kiến tánh. Trong đêm ấy, Tổ ngầm gọi vào phòng, ba ngày ba đêm cùng  đàm luận, rồi phó chúc pháp và cà sa. Tổ nói: “Ngươi được làm đại sư ở thế giới này, ngươi phải đi gấp!”. Rồi đích thân đại sư Hoằng Nhẫn đưa đi, qua trạm Cửu Giang, Ngài nhìn đò sang sông lớn rồi mới quay trở lại. Các môn đồ đều không biết sư đã phó pháp và cà sa cho Huệ Năng.

Sau đó ba hôm, đại sư bảo các đệ tử: “Các ngươi nên tản đi! Trong chốn đây không có Phật pháp, Phật pháp đã truyền  về Lãnh Nam rồi!”. Mọi người đều sững sờ và thay nhau hỏi: “Lãnh Nam có ai?”. Sư Pháp Như ở Lộ Châu đáp: “Huệ Năng ở đấy!”. Mọi người đều ùa đi về đó. Trong những người đó, có một tướng quân bậc tứ phẩm bỏ quan vào đạo, tự là Huệ Minh, đã từ lâu ở hầu cận bên đại sư, nhưng chưa được khế ngộ, nghe đại sư nói lời này, liền sớm tối đi mau gấp đôi đoạn đường. Đến trên đảnh Đại Bửu, Huệ Minh gặp được thiền sư Huệ Năng. Thiền sư quýnh quá  sợ rằng sẽ không bảo toàn được tánh mạng, bèn đem áo cà sa được truyền lại đưa cho Huệ Minh. Huệ Minh nói rằng: “Tôi vốn chẳng vì chiếc cà sa mà đến. Hôm đại sư Hoằng Nhẫn đưa Ngài đi, có lời chỉ dạy gì không? Xin nói lại cho tôi nghe với!”. Thiền sư Huệ Năng kể hết tâm pháp để giúp Huệ Minh đạt thẳng kiến tánh. Thiền sư Huệ Minh nghe xong, liền chắp tay đảnh lễ, rồi đưa thiền sư Huệ Năng gấp đi qua ngọn núi.  Phía sau, có rất nhiều người đuổi tới. Thiền sư Huệ Minh về sau ở núi Tượng. Đệ tử ở cửa Ngài cũng chỉ khán tịnh. Thiền sư Huệ Năng đến Tào Khê – Thiều Châu khai hóa hơn 40 năm. Kẻ đạo người tục đến đông đầy.

Sau, đến năm thứ 2 niên hiệu Cảnh Vân triều Đường, Ngài sai đệ tử Lập Giai xây tháp tại Long Sơn – Tân Châu. Đến năm đầu niên hiệu Thiên Nguyên, Ngài hỏi xây tháp xong chưa. Đáp: “Đã xong”. Tháng 9 năm ấy, Ngài từ Tào Khê về đến Tân Châu. Các vị tăng ở Tào Khê là nhóm các sư Lập Giai, Trí Hải… hỏi hòa thượng về sau ai là người đắc pháp và được truyền tín y cà sa để kế thừa. Hòa thượng đáp: “Các ngươi chớ hỏi! Sau này, tai nạn sẽ dấy lên nhiều lắm! Ta nhân do cà sa này mà mấy lần suýt mất mạng. Cà sa khi ở nơi đại sư Đạo Tín, ba lượt bị lấy trộm; khi ở đại sư Hoằng Nhẫn, cũng ba phen bị trộm cắp; khi đến chỗ của ta thì sáu lần bị lấy cắp; nhưng rốt cuộc thì không có người nào lấy trộm được, vì cà sa của ta nay người nữ đã đem đi rồi (ý chỉ Võ Tắc Thiên), nên đừng có hỏi ta nữa! Các ngươi nếu muốn biết được pháp của ta thì sau khi ta diệt độ ngoài 20 năm, kẻ nào vững lập tông chỉ của ta thì kẻ đó chính là người đắc pháp vậy!”.

Đến năm thứ 2 niên hiệu Tiên Thiên, Ngài chợt bảo các đệ tử: “Ta sắp đi xa rồi!”. Đêm mồng 3 tháng 8, Ngài an nhiên tọa hóa. Đại sư trải qua 76 xuân thu. Lúc ấy, nguồn khe Tào Khê bặt đứt dòng chảy, suối ao khô cạn, vầng nhật nguyệt tối mờ, rừng cây biến màu trắng toát, mùi hương lạ chan hòa ba ngày không dứt. Cùng năm ấy, ở chùa Quốc Ân, xứ Tân Châu, đón rước thần tòa của hòa thượng; đến tháng 11 thì an táng tại Tào Khê.

Thừa Vi Cứ, chùa Thái Thường, tạo văn bia; đến năm thứ 7 niên hiệu Khai Nguyên thì bị người mài sửa lại và tạo ra bia khác. Đời gần đây, Báo Tu Thị Lang Tống Đảnh soạn ra văn bia.

(Sửa chữa in lại “Lịch đại pháp bảo ký” quyển thượng)

8.4.Lịch Đại Pháp Bảo Ký
1007025
Total Visit : 905337