Thứ 4, ngày 28 tháng 9 năm 2022
"KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN 2022- PL. 2566" Hạnh phúc thay chư Phật ra đời Hạnh phúc thay giáo pháp cao minh. Hạnh phúc thay Tăng Già hòa hợp. Hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu.

Chương II

Chương II Sách:

CHƯƠNG II

TRƯỜNG THỌ

I. MẠNG SỐNG LÀ CÂU ĐỐ Ư?

Từ xưa đến nay, mạng sống chính là một vấn đề vô cùng thần bí, trừ người dốc hết tâm trí tu hành có được sở đắc, nếu không thì ai ai cũng đều không biết giây phút nào chúng ta đối mặt với tử thần. Có lẽ là sang năm hoặc 20 năm sau, có lẽ là hôm nay hoặc một tiếng đồng hồ sau … Tùy lúc mà có thể bị tai nạn vì xe cộ, động đất hoặc bị những bệnh hoạn trong thân thể … thật là đáng sợ! Nhân vì chúng ta không biết thời hạn khi mình chết, cho nên phải đem câu thành ngữ “triêu bất bảo tịch” (buổi sớm không bảo đảm tới chiều) để cảnh tỉnh chính mình trong mọi thời khắc, thật là vô cùng xác đáng!

Trong kinh “Bốn Mươi Hai Chương”, Đức Thế Tôn dạy các đệ tử rằng: “Nhân mạng chỉ tại hô hấp gian” (mạng người chỉ trong một hơi thở), ý nói một khi hơi thở không còn ra vào nữa thì đã chuyển sang đời khác rồi! Trong tất cả chúng ta, đừng nên cho rằng mình sẽ sống mãi mà không bao giờ chết! Thế nên, nhân lúc tuổi còn trẻ, hãy nỗ lực học tập và dụng công tu hành để được giải thoát. Nếu không, giờ chết gần kề giống như con cua trong chảo nước sôi thì làm sao còn cứu kịp nữa!

Biết rõ được sự thật của mạng người là vô thường thì có ích lợi rất lớn đối với chúng ta. Nhân vì thể hội được mạng người là vô thường, là không thật có nên những sự buông lung và tham ái không còn cơ hội để khởi lên nữa. Vì vậy, việc tỉnh giác về mạng sống con người là vô thường thì đó là đầu mối của trí tuệ và cũng chính là bước chân đầu tiên để vượt khỏi biển khổ sanh tử vậy! Thảo nào ở trong “Phật Môn Nhật Khóa”, Bồ Tát Phổ Hiền đề tỉnh chúng ta rằng :

Ngày nay đã qua

Mạng sống giảm dần

Như cá cạn nước

Nào có vui gì !

Nên siêng tinh tấn

Như lửa cháy đầu

Chỉ nhớ vô thường

Chớ nên buông thả”.

 

II. NHỮNG THÀNH TỰU Ở THẾ GIAN KHÔNG NHẤT ĐỊNH CÓ LIÊN ĐẾN SANH TỬ:

Giàu sang, học thức, địa vị, dung mạo đẹp đẽ… phần lớn đều không có tương quan đến vấn đề sanh tử. Cho dù có giàu sang như bậc vương hầu, học thức ở thế tục có sâu rộng như biển cả, địa vị cao như công khanh và dung mạo đẹp như nàng Tây Thi đi nữa, nhưng khi đại nạn đến, cũng vẫn không tránh khỏi cảnh lúng túng không biết nương tựa vào đâu. Nếu cho rằng giai nhân, tài tử được sống lâu như thế thì thật không hiểu được câu nói: “Tự cổ hồng nhan đa bạc mệnh” (Từ xưa đến nay, những người đẹp phần nhiều là có số phận hẩm hiu). Cho nên, không thể nhân vì mình được dung mạo đoan trang đẹp đẽ mà sinh ra lòng kiêu ngạo; không thể vì chúng ta tuổi còn trẻ mà cho là Diêm La Vương lại chẳng biết đường đến tìm. Nên biết “ Thây chết ở trong quan tài không nhất định là người già. Trên con đường mưu sinh của nhân loại, có người đi chưa đến điểm cuối của cuộc đời mà đã nằm xuống”. Cho nên, người xưa răn nhắc chúng ta rằng: “Mạc vị lão lai phương niệm Phật, cô phần đa thị thiếu niên nhân” (Chớ bảo tuổi già mới niệm Phật, mộ phần lắm kẻ tuổi xuân xanh).

Chúng ta rất khó biết trước được khi nào mình sẽ từ bỏ cõi nhân gian này: Có người chết ở trong bào thai, lại không được sinh ra trước khi chết; có thai nhi vừa sinh ra nhân vì bị nhiễm bệnh vàng da vàng mắt, bệnh giang mai, bệnh máu đông chậm mà từ bỏ cõi đời; có đứa bé sống đến ba – bốn tuổi thì bị xe cán chết; có người sau khi trưởng thành, nhân vì chuyện ngoài ý muốn mà phải bị thương vong.

Ta không nên cho mình thông minh và tài trí mà xem thường người khác. Nhân vì thông minh mà chết yểu thì trường hợp này rất nhiều. Ví như khi tôi còn học tiểu học, có vị lớp trưởng tên Au Dương, học hành giỏi nhất, nhưng đến năm thứ 5 cấp tiểu học thì sanh bệnh viêm phổi mà qua đời. Năm thứ 6 cấp tiểu học, có người bạn đồng học họ Liễu nhân bị bệnh nhọt độc trên cổ mà chết đi.

Song tín ngưỡng theo tôn giáo cũng không hẳn là được trường thọ trăm năm. Ví như ở Bình Đông, có một người thanh niên dốc hết lòng thành tín ngưỡng Cơ Đốc giáo. Anh ta vừa tốt nghiệp Đại học chưa được bao lâu thì nhân vì bị sự cố máy bay mà phải mất mạng. Khi tôi đọc sách ở Nghiên cứu Sở, hôm nọ gặp một vị quản lý xí nghiệp tên là Đỗ Hữu Sanh, anh vốn là một tín đồ của Đạo giáo, lại cũng đã từng học qua các trường Phật học. Nhưng thật không may, khi anh ta giao du ở San Hô Đàm, trong lúc qua sông, bỗng dưng sẩy chân trượt té mà chết đuối. Trong trường hợp này, chẳng phải là Phật giáo không linh nghiệm mà là do sự công phu của mình không đến nơi đến chốn! Lại vì không tận tâm tận lực tu học nên mới không có phương pháp chuyển biến được định nghiệp vậy

!

Tôi đã nêu ra những câu chuyện trên với mục đích chính là muốn nhắn nhủ mọi người rằng học vấn và tài năng ở thế tục chỉ có thể giải quyết được một vài vấn đề khó khăn nhỏ nhoi trong cuộc sống hiện tại, chứ thật ra không giải quyết được chuyện lớn sanh tử. Từ xưa đến nay, các tông giáo đều tận tâm tận lực để tìm cầu sự giải đáp về vấn đề “sanh tử sự đại” (việc lớn của sanh tử), nhưng chỉ có Phật giáo mới giải quyết được một cách triệt để về vấn đề này mà thôi! Những người tín ngưỡng theo Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo và Ma Môn giáo, tuy được sanh lên thiên đàng hưởng phúc vui, nhưng không thể thoát ly ra khỏi “sáu nẻo luân hồi” triền miên vô tận này. Đối với nghĩa lý, giáo pháp của Phật giáo tuy đã hoàn toàn thiện mỹ, nhưng không phải chỉ có tin theo sự tướng và hình thức bên ngoài là đủ mà còn phải duy trì, lý giải và thực hành thì mới có thể giải quyết được vấn đề sanh tử một cách xác thực nhất, đồng thời cũng thực chứng được chân lý vĩnh hằng vô tận của đức Phật. Chúng ta cũng không nên cho rằng khi đã tin theo tôn giáo thì Diêm Vương không biết đường tìm đến. Đừng vì như thế mà thờ ơ cho qua ngày qua tháng. Chúng ta phải biết rằng“định nghiệp rất khó chuyển. Đây là sự thật, chỉ trừ phi ở trong Phật pháp mà tu tập đến mức độ có lối ngộ nhập thì mới được tự tại trong sanh tử. Đến lúc này thì đối với vấn đề sanh tử kể như là chuyện ngoài lề. Nếu không được như vậy thì chúng ta nên đem hết thân mạng mà nỗ lực tu tập, mảy may cũng không được biếng trễ.

Trong kinh “Bốn Mươi Hai Chương”, Đức Phật dạy: “Phù vi đạo giả như ngưu phụ trọng hành thâm nê trung, bì cực bất cảm tả hữu cố thị, xuất ly ứ nê nãi khả tô tức. Sa môn đương quán tình dục thậm ư ứ nê, trực tâm niệm đạo, khả miễn khổ hỷ” (Nói đến người học đạo, giống như con trâu mang nặng đang đi trong bùn lầy, dù rất mỏi mệt nhưng không dám nhìn ngó hai bên, đợi đến khi ra khỏi bùn lầy rồi thì mới được an tâm nghỉ ngơi. Thầy sa môn nên quán sự nhục nhiễm tình trần thật đáng sợ hơn là bùn lầy, phải chuyên tâm tu tập thì mới được khỏi khổ vậy).

III.   DINH DƯỠNG, VẬN ĐỘNG VÀ THỌ MẠNG:

Các vị không nên cho rằng chỉ cần ăn uống cho đầy đủ chất dinh dưỡng, vận động cho cơ thể khỏe mạnh thì thọ mạng chắc chắn sẽ được diên trường. Nói đến vấn đề dinh dưỡng và vận động thì đây chỉ là điều kiện phụ để kéo dài tuổi thọ chứ không phải là nguyên nhân chính yếu, bởi vì hiện tại rất nhiều người có dinh dưỡng rất tốt lại cũng thường vận động nhưng lại chết yểu. Ví như có rất nhiều con em sống trong cảnh giàu sang quyền quý, thường ăn cao lương mỹ vị, mặc quần áo lụa là, lại còn chơi bời lêu lổng nhưng thọ mạng thì chẳng bao lâu. Lý Tiểu Long là một ngôi sao điện ảnh thời cận đại, mỗi ngày đều luyện võ thuật để vận động cho thân thể cường tráng nhưng sao lại chết sớm?

Thọ mạng dài hay ngắn, sự cao thấp về đạo đức và tri thức có lúc cũng không hẳn thành một tỷ lệ tuyệt đối. Ví như Đạo Chích có đến 9000 tên tùy tùng chuyên làm xằng làm bậy, hoành hành khắp thiên hạ, vậy mà hắn sống tương đối lâu. Còn Hạng Thác mới có 7 tuổi mà đã làm  bậc thầy của Khổng Tử, thế nhưng lại chết yểu!

Chúng ta cũng không nên căn cứ vào số mạng dài hay ngắn để đoán định phẩm hạnh tu hành của một người. Ví như thầy Nhan Hồi vốn là người học trò tâm đắc nhất của Khổng Tử. Tâm niệm của thầy ấy suốt ba tháng đều không lìa điều nhân, không bao giờ thầy ấy phạm lỗi đến lần thứ hai và cũng không bao giờ khoe khoang những việc lành, nết tốt của mình. Thế mà thầy ấy lại chết non!

Các vị lại không nên cho rằng số mạng của thầy Nhan Hồi ngắn ngủi là vì không đủ chất dinh dưỡng. “Nhan Hồi nhất đan tự, nhất biều ẩm nhi tự đắc kỳ lạc” (Nhan Hồi một giỏ cơm, một bình nước mà vẫn cảm thấy an vui). Đây là hạnh tu của thầy. Nếu như thầy Nhan Hồi thật sự không đủ dinh dưỡng thì đức  thánh Khổng và các bạn đồng học của Nhan Hồi nhất định sẽ chăm sóc và giúp đỡ. Vậy nói cho cùng thì nguyên nhân thọ mạng ngắn ngủi của thầy Nhan Hồi nếu như không phải là do nghiệp lực của kiếp trước ảnh hưởng đến thì cũng là bậc đã đạt được mức “tự tại trong sanh tử, dạo chơi chốn nhân gian”, thị hiện ra sanh tử để cảnh tỉnh người đời về đạo lý “Mạng sống là vô thường” và để khuyến dẫn họ tinh tấn tu hành.

Nếu nói vì “một giỏ cơm, một bầu nước ” mà tạo nên hiện tượng mạng sống ngắn ngủi, thế thì ở trong “ kinh Phổ Diệu và kinh Nhân Quả” chép rằng: “Khi Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni chưa thành đạo thì Ngài đã từng tu khổ hạnh sáu năm ở núi Tuyết, mỗi bữa Ngài chỉ ăn một hạt mè và một hạt lúa mạch”. Vậy thì sao thọ mạng của Ngài lại kéo dài đến tuổi 80?

Quyển “Đại Mỹ Bách Khoa Toàn Thư” đã từng ghi lại một thực nghiệm về khoa học có liên quan đến việc ăn uống và sức khỏe như sau: “Các khoa học gia đem loài chuột phân làm hai nhóm: Nhóm chuột A mỗi ngày đều được ăn no đủ, còn nhóm chuột B thì chỉ được ăn chút ít về thực vật. Kết quả cho thấy nhóm chuột A không những sống lâu hơn nhóm chuột B mà bộ lông trên thân của chúng còn bóng mượt lên”.

Trong tâm lý học, cũng có thực nghiệm tương tự. Ví như đem loài chuột trắng phân làm hai nhóm: Nhóm chuột trắng bên A mỗi ngày sau khi cho ăn no rồi dùng nhạc để kích thích chúng, còn nhóm bên B thì để chúng nhịn đói. Kết quả phát hiện nhóm chuột trắng bên A bị loét bao tử nhiều hơn so với nhóm bên B. Đây cũng nói rõ nguyên nhân sinh ra bệnh loét bao tử chủ yếu là tinh thần, chứ không phải do đói khát.

Trong tự nhiên, chúng ta rất dễ tìm được chứng cứ ăn ít mà được trường thọ. Ví như loài rùa mỗi ngày chỉ ăn rất ít rau cỏ, nhưng lại  có thể sống trên 100 năm. Còn loài sư tử, cọp… mỗi ngày ăn rất nhiều thịt nhưng thọ mạng lại ngắn ngủi. Thực trạng xã hội cũng thế, ở trong thiên hạ chắc chắn không có người nào vì ham hố ăn uống mà lại trường thọ. Ta thấy rất nhiều bà lão ở trên núi hoặc ở những vùng quê hẻo lánh, mỗi ngày họ chỉ ăn rau quả. Cuộc sống tuy rất đơn giản, nhưng có nhiều người sống đến ngoài tuổi 90. Bạn thử giải thích xem có lạ không chứ ?

IV. NHÂN VÀ DUYÊN ĐỂ  SỐNG LÂU:

Mạng sống thọ hay yểu cùng với sự giàu sang, địa vị, học thức, tốt xấ… vốn không có liên quan với nhau. Nhưng nó có quan hệ đến tâm từ bi, tục ngữ có câu “nhân giả thọ” (người có lòng nhân ái thì được sống lâu), thật không sai tí nào cả! Đem tâm nhân hậu và khoan dung để đối đãi với người thì nhất định sẽ được quả lành. Người đời nay trường thọ chắc hẳn là do kết quả ở đời quá khứ hoặc đời hiện tại có tâm từ ái đối với động vật. Người đời nay mạng sống ngắn ngủi tất nhiên là do kết quả của đời trước hoặc đời này giết hại loài vật.

Người đời nay làm việc thiện như đi chùa lễ Phật, nghe kinh, bố thí, phóng sanh… mà mạng sống ngắn ngủi thì đó là do quả báo của những nghiệp ác mà họ đã gây từ thuở quá khứ nên họ phải cam chịu quả báo xấu ác. Còn những nghiệp thiện của đời này chính là hạt giống mới gieo xuống thửa ruộng công đức chưa ra hoa kết trái.

Trong cuộc sống hàng ngày, ta thường thấy những người cả đời làm lành mà bị ác báo, luôn gặp khó khăn trên đường hành đạo, nào là bị ngoại duyên bức ngặt, cuộc sống luôn bị người chèn ép, những điều mình mong muốn thì không thực hiện được, thể xác thì bệnh hoạn, tâm linh thì phiền muộn rối rắm …, cả trăm ngàn nghịch cảnh. Vậy các bạn đừng nên oán trời, trách người; cũng đừng than vắn thở dài, bi lụy xót xa. Trời ơi! Sao tôi làm lành mà không được quả tốt?… Nên biết rằng đó là những nghiệp ác ở đời quá khứ của mình đã gây tạo mà cảm vời ra. Vậy nên phải mau mau sám hối, niệm Phật tinh tấn, nỗ lực, hết lòng tu tập để mong cho nghiệp chướng mau được tiêu trừ.

Chúng ta cần phải hiểu rõ nguyên lý của tâm địa giống như khi chúng ta khai khẩn đất hoang để gieo trồng hoa mầu, điều trước tiên là phải diệt trừ sạch những hạt giống cỏ dại. Nếu không, chúng sẽ sanh trưởng rất nhanh, làm cho những hoa mầu của chúng ta gieo trồng không thể lớn lên được.

Sau đây, tôi xin nói rõ về những nhân duyên của sự trường thọ:

1. Nhân trường thọ:

Nguồn gốc của nhân trường thọ được hình thành từ lòng nhân ái, tâm từ bi cứu hộ những động vật, tự mình phóng sanh, khen ngợi khuyên bảo người làm việc phóng sanh và thí xả những thực phẩm mình ăn cho loài vật.

2. Duyên trường thọ:

Hình thành từ tâm bình lặng, chí khí hòa mục với mọi người, không nóng nảy giận hờn, môi trường sống có khuôn phép, biết điều tiết được việc ăn uống, sinh hoạt có giờ giấc, không lao nhọc quá độ…

3. Nhân chết yểu:

Giết hại động vật, ngược đãi với mọi người…

4. Duyên chết yểu :

Luôn luôn hờn mát, suốt ngày chỉ lo ăn uống, làm việc lao nhọc quá sức, kết bạn với kẻ ác …

V. NHỮNG CHỨNG CỨ CỦA NGƯỜI LÀM ĐIỀU NHÂN ĐỨC ĐƯỢC KÉO DÀI TUỔI THỌ:

1.  Sa di cứu đàn kiến khỏi bị chết yểu:

Kinh Thí Dụ chép: “Thuở xưa, tại khu rừng nọ, có năm thầy sa môn tu tập, trong ấy có một vị chứng được sáu phép thần thông. Ngài có một người đệ tử sa di mới 8 tuổi. Vị sa môn này có được túc mạng thông nên biết chỉ còn 7 ngày nữa là tuổi thọ của chú sa di sẽ hết. Ngài bèn nghĩ rằng nếu như chú sa di chết đi thì cha mẹ của chú nhất định sẽ cho là mình không trông nom lo lắng, rồi phiền muộn, trách cứ… Ý nghĩ vừa thoáng qua thì trong lòng bắt đầu bồn chồn và cảm thấy khó chịu.

Nhân đây mà thầy sa môn bảo chú sa di rằng: “Cha mẹ giờ đây chắc nhớ con lắm, vậy con nên trở về thăm viếng, tám ngày sau hãy trở lại”. Lúc bấy giờ, chú sa di vô cùng mừng rỡ vì ít được dịp may như vậy. Thế là chú đảnh lễ và từ biệt thầy sa môn.

Tiểu sa di đi được nửa đoạn đường thì trời bắt đầu mưa to. Trông thấy bên đường, nước mưa đang chảy vào hang kiến, chú sa di bèn lấy đất lấp miệng hang lại khiến cho nước không chảy vào nữa.

Sau khi chú sa di trở về nhà, suốt mấy ngày không hề có việc gì xảy ra. Mãi đến rạng ngày thứ 8, chú lại về đến chỗ của thầy sa môn. Vị sa môn ngạc nhiên thấy sa di vẫn bình an trở về, lấy làm lạ bèn nhập định quán xét nguồn cơn thì mới biết là tiểu sa di nhân vì cứu đàn kiến mà tuổi thọ được tăng thêm.

Thầy sa môn hỏi: “Con vừa làm xong một công đức thật to, thế con có biết đó là công đức gì không?”.

Tiểu sa di ngơ ngác đáp: “Bảy ngày qua, con đều ở trong nhà, nào có làm công đức gì đâu!”.

 Thầy sa môn lại nói: “Con lẽ ra chỉ sống được tới ngày hôm qua, nhưng vì nhờ công đức cứu đàn kiến nên bây giờ thọ mạng của con kéo dài đến tuổi 80”.

Tiểu sa di nghe thầy mình nói nguyên do của “thiện hữu thiện báo” (làm lành được hưởng quả lành) thì càng thêm tin tưởng và trong lòng vô cùng hoan hỉ. Thế là kể từ đó, chú sa di dũng mãnh và nỗ lực dụng công tu hành, không lúc nào bê trễ. Ít lâu sau, chú chứng được thần thông và thánh quả (kinh Pháp Cú Thí Dụ, chương 7).

2. Lưu Cảnh phóng sanh được trường thọ:

Vào triều nhà Minh, có một người tên Lưu Cảnh, phụ thân là một vị quan Đại tư khấu rất nổi tiếng. Lưu Cảnh thuở nhỏ vốn là người yếu đuối, nhiều bệnh tật. Cảnh có cả thảy bốn người anh đều lần lượt qua đời ở độ tuổi thanh xuân. Nhân đây, cha Cảnh vô cùng lo lắng cho sự an nguy của đứa con duy nhất còn lại của mình. Thế là ông mời rất nhiều thầy bói đến nhà để xem tướng, nhưng thật không may là mọi người đều nói rằng Cảnh sống không quá tuổi 19.

Nghe nói ở Tứ Xuyên có một vị tướng sĩ nổi tiếng tên Chu Sĩ Liên vừa đến kinh thành, Đại tư khấu họ Lưu bèn mời tướng sĩ họ Chu đến nhà để xem tướng cho Cảnh. Chu tướng sĩ nhìn thấy dung mạo của Cảnh thì nói rằng :“Ngươi sẽ có một nguy ách rất khó qua năm 19 tuổi, nhưng xin ngươi đừng tuyệt vọng, hãy nghe lời ta mà nỗ lực sám hối nghiệp chướng, rộng chứa âm đức thì có thể chuyển được vận xấu”.

Năm ấy, Lưu Cảnh được 17 tuổi. Sau khi nghe lời của Chu tướng sĩ tiên đoán, từ đấy về sau, Cảnh quyết tâm bỏ những việc làm ác, rộng làm việc lành, lại đem  thuyết “công quá cách” và “Thái thượng cảm ứng thiên” để làm khuôn phép, mỗi ngày đều phản tỉnh tự răn và nghĩ ra một thiện niệm rằng: “Ở trên vách tường phía Đông, khuyên một vòng màu đỏ. Ở trên vách tường phía Tây, khuyên một vòng màu đen”.

Đối với giới sát và phóng sanh, đặc biệt thực hành không dám mảy may bê trễ. Như vậy trải qua 3 năm, cuối cùng thì vẫn bình an và vượt qua được cửa ải khó khăn vào năm 19 tuổi.

Ngày nọ, Lưu Cảnh ở trên chuyến thuyền vượt qua sông Trường Giang, nhìn thấy ông chài bắt được một con rùa thật to, Lưu Cảnh thấy vậy khởi lòng từ mẫn, bèn mua và đem thả. Con rùa kia dường như rất có linh tính, nó luôn luôn theo sau mạn thuyền để đưa tiễn anh ta đến 5 – 6 dặm, vẫn còn lưu luyến mãi không thôi.

Ngay đêm hôm ấy, Lưu Cảnh dừng chân trong một quán trọ, mộng thấy một vị đạo nhân, thân mặc áo đen, dáng người vừa thấp vừa to bè đến trước mặt Cảnh, nói rằng: “Công tử rộng làm các việc lành, ngót ba năm liền không hề bê trễ. Bây giờ, anh đã được trường thọ và tăng thêm phúc lộc rồi đấy, nhưng thân thể của anh còn ốm yếu lắm, thật khó mà chịu nổi những cơn nóng lạnh thâm nhập. Bần đạo hiện có chút diệu thuật muốn truyền trao. Nếu công tử y theo đây mà thực hành thì sẽ được bình an, không bệnh hoạn”. Đạo nhân nói xong, bèn dạy Lưu Cảnh lẽ quan trọng của việc điều tức.

Khi tỉnh lại, Lưu Cảnh mới biết vị đạo nhân ấy chính là thần qui đến báo ơn. Thế là từ đó, Cảnh bèn y theo phép dụng công trong mộng mà thực hành. Chẳng bao lâu, thân thể ngày một khỏe mạnh hơn. Sau này, Cảnh mời Chu Sĩ Liên đến kinh thành để đa tạ ân tình chỉ dạy năm xưa.

Chập tối hôm ấy, Cảnh và Chu tướng sĩ cùng nằm ngủ trên một chiếc giường. Chu Sĩ Liên ngủ thiếp đi, đến nửa đêm lại tỉnh dậy thì phát giác được là hơi thở của Cảnh vô cùng nhẹ nhàng vi tế.

Đến rờ rờ đất ngày hôm sau, khi ngủ dậy, Chu tướng sĩ bèn nói với Đại tư khấu họ Lưu rằng: “Xin hỏi mấy năm gần đây, công tử của ông sao tướng tá thay đổi nhiều quá vậy? Đêm hôm qua, tôi cùng Cảnh ngủ chung trên một chiếc giường thì mới biết cậu ta đã học được phương pháp hô hấp của thần Ô Qui. Đây không chỉ rất có ích cho thân thể mà lại phước thọ miên trường nữa. Thật là Lưu Cảnh làm thiện được phước báo vậy !”.

Về sau, Lưu Cảnh sống đến 98 tuổi, con cháu đều là những bậc hiền tài. Quả thật đúng với lời tiên đoán của tướng Chu Sĩ Liên vậy!

VI.  PHẢI NUÔI DƯỠNG TÂM TỪ BI TỪ THUỞ ẤU THƠ:

Tâm từ bi là nền tảng căn bản của các hạt giống lành. Nói đến lòng từ bi, đại khái được chia làm hai phương diện:

1. Cứu giúp người sống trong cảnh nghèo khổ và khó khăn.

2. Phải giữ gìn hết sức chu đáo giới sát và thường phóng sanh.

Loại tâm từ bi thứ nhất là đối với loài người, còn loại thứ hai là đối với động vật.

Cử chỉ tốt đẹp cứu giúp người sống trong cảnh nghèo nàn khốn khổ so ra thì được mọi người trong xã hội tiếp thu được, còn việc giữ giới sát và thường phóng sanh thì tương đối khó khăn. Vấn đề chủ yếu là thông thường người ta không rõ ý nghĩa của việc làm đó nên rất ít người xiển dương.

Một người nếu muốn trường thọ thì không những cứu giúp người bần cùng khốn khổ, mà còn phải có tâm từ bi thương yêu bảo hộ các loài động vật nữa. Ví như nhìn thấy đứa bé vì không hiểu biết nên bắt giết chuồn chuồn, bươm bướm, ong mật, kiến, sâu bọ, chim non…, dùng đủ mọi hình thức để giết chết và ngược đãi các loài động vật để làm trò đùa. Như thế, chúng ta phải có trách nhiệm khuyên dạy, cấm ngăn hoặc dạy cho chúng hiểu đâu là thiện, đâu là ác. Nhân vì việc làm này không những chỉ tổn thương đến mạng sống mà còn tăng thêm tập khí sát sanh. Mai này, khi lớn lên, những hành động ấy vốn đã nhiễm sâu vào tạng thức, chúng rất dễ trở thành những con người không có lòng nhân ái, thậm chí dẫn đến giết người.

Đỗ Phủ là một đại thi hào triều Đường. Ông đã từng nhìn thấy những đứa bé vì vui đùa mà giết hại sinh vật mà đau xót cảm than rằng :

Nguyên văn:

Can qua binh cách đấu vị chỉ

Phượng hoàng, kỳ lân an tại tai

Ngô đồ hồ vi túng thử lạc

Bạo diễn thiên vật thánh sở ai

Dịch nghĩa:

(Can qua gươm dáo đấu chưa dừng

Phượng hoàng, kỳ lân nào dửng dưng?

Ta lầm loạn theo vui thú ấy

Giết sạch muôn loài thánh lệ rưng)

Không những như thế mà chúng ta còn phải dạy dỗ con cái không giết hại loài vật. Nên dạy chúng nuôi dưỡng lòng từ bi ngay từ thuở nhỏ. Nếu khi gặp loài động vật lâm vào cảnh khốn cùng, ví như thấy thiêu thân lao vào lửa, côn trùng bị bắt, chim sẻ bị thương, loài kiến bị đạp, cá tôm mắc lưới, thú bị rượt… đều nên khởi lòng từ bi, tận tâm tận lực dùng mọi phương cách để cứu hộ chúng.

Ngoài ra, không được tùy tiện đem nước sôi đổ ở trên đất, nhân vì trên và trong đất có vô số loài sinh động vật đang sống. Việc làm này không chỉ thương hại đến tánh mạng của chúng, đồng thời cũng khiến cho chúng ta gặp ác báo là mạng sống ngắn ngủi, thường hay bệnh hoạn ốm đau.

Đức Phật dạy chúng ta rằng: “Bình không, chậu không, hủ không, khạp không… đều phải để úp trên đất, không được để ngữa, nhân vì để ngữa thì lúc mưa xuống, nước ứ đọng lại lâu ngày sẽ sanh trùng, đến khi chúng ta dùng hủ, nếu chẳng cẩn thận, đem nước đổ đi thì những ấu trùng sẽ bị chết khô”. Đây cũng là một phương thức sát sanh vậy!

Lại nhân vì bộ phận chứa nước ấy tích tụ chừng một hai ngày thì muỗi liền đẻ trứng vào trong đó, rồi sanh ra rất nhiều ấu trùng. Đến khi trời nắng, chúng sẽ bị chết khô ngay. Tương tự với đạo lý này là cũng không nên dùng nước dơ có trùng mà tưới hoa hoặc rau cỏ.

Trong thực nghiệm, ngành khoa học đã cho biết: Nếu chúng ta sử dụng nhiều thuốc sát trùng như DDT chẳng hạn thì sẽ dẫn đến bệnh ung thư gan”. Vì vậy, ở trong gia đình, chúng ta cũng không nên sử dụng thuốc sát trùng. Giả như có thể nói rằng nhang muỗi cũng rất độc hại, nghe nói sử dụng nhiều nhang muỗi thì sẽ có ảnh hưởng rất xấu đến hệ thần kinh não của trẻ em. Vậy muốn phòng ngừa ruồi, muỗi, gián… thì chúng ta phải khai thông cống rãnh, sắp đặt đồ đạc cho gọn gàng ngăn nắp và cửa sổ phải có rèm che. Đây chính là biện pháp căn bản.

Nhân vì nếu dùng thuốc sát trùng để giết hại loài động vật thì sau ắt sẽ nhất định hại đến sức khỏe của mình.

Trong kinh, Đức Phật dạy: Người giết hại chúng sanh sẽ bị quả báo nhiều bệnh tật, mạng sống ngắn ngủi”. Ngày nay, khoa học cũng chứng minh rằng: Nếu sử dụng thuốc sát trùng thì sẽ tổn hại đến sức khỏe; phá hoại hệ sinh thái; gây ô nhiễm không khí, nguồn nước và hoàn cảnh chung quanh chúng ta”.

Chúng ta phải nên phát huy lòng nhân ái. Điều kiện thiết yếu để phát huy lòng nhân ái là cần phải phóng sanh và thí thực. Phóng sanh tức là bất kỳ ở các chợ, đường sá…, gặp những loài động vật như chim, cá, rùa… bị nhốt, trói hoặc sắp bị giết hại thì chúng ta phải tận tâm tận lực dùng mọi phương kế để cứu hộ chúng và làm cho chúng được tự do. Nói đến thí thực thì chia làm hai loại:

Một là thí thức ăn cho chim, cá… hay những động vật khác ở nơi hoang dã, ví như mỗi ngày rải một ít hạt lúa ở bên chùa hoặc ngoài tăng phòng cho chim ăn để cho chúng khỏi đói mà phải đi tìm ăn những côn trùng nhỏ bé. Đây cũng là cơ hội làm giảm sát sanh không hình tướng hay cũng chính là phương pháp tích tụ âm đức vậy!

Hai là thí thức ăn cho loài ngạ quỷ hoặc những cô hồn vất vơ vất vưởng không nơi nương tựa. Loại thí thực này cần phải niệm chú thì mới có hiệu nghiệm. Nhân vì có những loài ngạ quỷ cổ nhỏ như lỗ kim, khi ăn thức ăn không thể vào được. Nếu ta đọc lời chú thì nương vào oai lực của Tam Bảo khiến cho cổ họng của loài quỷ ấy mở rộng ra, cho dù ăn uống không ngon thì cũng khiến cho thức ăn biến ra rất nhiều hoặc khiến cho thức ăn biến thành mỹ vị. Ở các kinh Thiền Môn Nhật Tụng”, “Phật Môn Nhật Tụng hoặc Tảo Vãng Khóa Tụng Bản… đều có ghi rất rõ về những chú này. Ví như: Chơn ngôn phá địa ngục, chơn ngôn triệu thỉnh, chơn ngôn mở oan kết, chơn ngôn diệt định nghiệp, chơn ngôn diệt nghiệp chướng, chơn ngôn mở rộng yết hầu, chơn ngôn biến thực, chơn ngôn cam lộ thủy…

Kinh Ưu Bà Tắc chép: “Mỗi ngày, khi ăn cơm, trước tiên phải cúng dường mười phương chư Phật và chư Bồ tát, kết duyên cùng các bậc thánh hiền để đời sau chúng ta dễ gần gũi mà tiếp nhận sự giáo hóa của các Ngài. Khi cúng dường xong, nên dùng một cái muỗng, dùng bảy hạt cơm, nếu bún thì dài chừng một tấc, đem ra bên ngoài để cúng dường quỷ thần, lại tụng lời kệ chú như sau:

1. Nguyên văn:

Pháp lực bất tư nghì

Từ bi vô chướng ngại

Thất liệp biến thập phương

Phổ thí châu sa giới.

Án độ lợi ích tóa ha.

Dịch nghĩa:

Sức pháp chẳng nghĩ bàn

Từ bi không ngăn ngại

Bảy hạt biến mười phương

Thí khắp cùng pháp giới.

Án độ lợi ích tóa ha (ba hoặc bảy lần)

2. Nguyên văn:

Đại bàng kim xí điểu

Khoáng dã quỷ thần chúng

La Sát quỷ tử mẫu

Cam lộ tất sung mãn.

Án mục đế tóa ha.

Dịch nghĩa:

Chim đại bàng cánh vàng

Khoáng dã các quỷ thần

Mẹ con quỷ La Sát

Thảy đầy đủ cam lộ

Án mục đế tóa ha.

(Ba hoặc bảy biến và đàn chỉ ba lần.)

3. Nguyên văn:

Nhữ đẳng quỷ thần chúng

Ngã kim thí nhữ cúng

Thử thực biến thập phương

Nhất thiết quỷ thần cộng.

Án mục lực lăng tóa ha.

Nguyện dĩ thử công đức

Phổ cập ư nhất thiết

Ngã đẳng dữ chúng sanh

Giai cộng thành Phật đạo

Dịch nghĩa:

Các vị chúng quỷ thần

Ta nay thí cho ngươi

Thức ăn biến mười phương

Tất cả quỷ thần thảy.

Án mục lực lăng tóa ha (ba hoặc bảy lần.)

Nguyện đem công đức này

Hồi hướng cho tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo.

Nếu các vị muốn hiểu rõ điển cố và lời kệ chú của pháp thí thực này thì xin xem trong kinh “Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ Đà La Ni”, kinh “Niết Bàn” và trong “Tỳ Nại Da Tạp Sự”.

VII. CẤT BƯỚC THƯỜNG ĐỂ Ý ĐẾN TRÙNG KIẾN:

“Cử bộ thường khán trùng nghị” (cất bước thường để ý đến trùng kiến). Câu nói này được chép ra từ sách “ Âm Chất Văn ” của Văn Xương Đế Quân. Hàm ý của câu nói này là khuyên chúng ta phải có lòng từ bi thương yêu cứu giúp tất cả muôn loài động vật, không nên vì thân hình của loài trùng – kiến nhỏ nhoi mà xem thường chúng, thậm chí còn dẫm đạp. Đây là nói về tâm từ bi và bình đẳng, thật đáng quý thay!

Thế thường, mỗi khi chúng ta cất bước thì rất dễ gây ra tội lỗi, làm tổn thương đến không biết bao nhiêu trùng – kiến.

Phật dạy chúng ta: Mỗi buổi sáng thức dậy, khi chưa xuống giường thì trước tiên nên niệm vài câu Phật hiệu, sau đó đọc bài kệ cầu nguyện rằng:

1. Nguyên văn:

Tùng triêu dần đán trực chí mộ

Nhất thiết chúng sanh tự hồi hộ

Nhược ư túc hạ tán thân hình

Nguyện nhữ tức thời sanh tịnh độ.

(Án dật đế luật ni tóa ha)

Dịch nghĩa:

Từ buổi tinh sương đến bóng tà

Tất cả mọi loài nên lánh xa

Nhỡ như chân đạp tan thân mạng

Nguyện thảy các ngươi sanh tịnh nha.

Án dật đế luật ni tóa ha (ba hoặc bảy biến)

2. Nguyên văn:

Nhược cử ư túc

Đương nguyện chúng sanh

Xuất sanh tử hải

Cụ chúng thiện pháp.

(Án địa lợi nhật lợi tóa h.a)

Dịch nghĩa:

Bằng dở bước chân

Nguyện cho chúng sanh

Khỏi biển sanh tử

Đủ các pháp lành.

Án địa lợi nhật lợi tóa ha. (ba hoặc bảy biến)

Những kệ chú trên đây, ai ai cũng đều tụng được, dù là người tối dạ đi nữa cũng không thể không tụng thuộc. Đối với những đứa bé 5 – 6 tuổi, chúng ta phải nên dạy chúng đọc thuộc những bài kệ chú hộ sanh này, khiến cho chúng sớm tối đọc tụng để dưỡng thành tập quán từ bi, phải làm tăng trưởng lòng nhân ái của những đứa bé ngay khi độ tuổi còn nhỏ. Mai sau, chúng lớn lên, lòng nhân ái lại càng phát triển đầy đủ. Như vậy, nhân cách của đứa trẻ nhất định sẽ tốt và hoàn thiện hơn. Giả như ai ai cũng làm như thế thì trong thế giới này nhất định sẽ đại đồng, không còn chiến tranh và tệ nạn sẽ không xảy ra nữa.

Trong sinh hoạt hàng ngày, ở mọi nơi mọi lúc, phải quan tâm đến sự an nguy của các loài động vật. Thời thường phải quán xét hành vi của mình, không nên làm thương hại đến loài trùng kiến. Ví như ăn bánh và ăn cơm thì phải cẩn thận, không nên sơ ý buông tuồng để rơi cơm, bánh và thức ăn ở dưới đất. Khi ăn cơm và điểm tâm xong thì phải quét dọn sạch sẽ ngay để loài trùng kiến khỏi bị người ta vô tâm đạp chết.

VIII. ĐỐN CÂY VÀ ĐỐT LÁ SẼ BỊ CHẾT YỂU:

Quyển hạ phẩm “Tâm Địa Giới” trong kinh “ Phạm Võng” chép: Nếu Phật tử đem tâm giận dữ mà phóng lửa để thiêu đốt núi rừng, đồng nội, nhà cửa, ruộng vườn… thì bị mắc tội, kết thành phiền não và ô nhiễm tâm linh mình. Tất cả mọi loài có mạng sống đều không nên cố ý thiêu đốt chúng”.

Thiên “Nguyệt lệnh”, sách “Lễ ký” chép: “Nếu không thận trọng lựa chọn thời tiết cho thích đáng mà tùy tiện đốn và chặt phá núi rừng thì đó cũng chính là người bất hiếu”.

1. Nhìn từ phương diện động vật:

Nhân vì ở trên cây có rất nhiều loài côn trùng nhỏ đang sinh sống. Ngoài những côn trùng, còn có các loài chim, khỉ… nương vào đó mà sống. Nếu ta tùy tiện lạm đốn cây cối hoặc thiêu đốt núi rừng thì không những làm thương hại đến loài côn trùng nhỏ mà còn khiến cho nhiều động vật khác phải sống trong cảnh ly tan, không nơi trú ẩn hoặc phải tan thân mất mạng trong biển lửa. Đang lúc cây bị chặt ngã, không chỉ đoạn tuyệt nguồn sống của các loài động vật mà tổ và trứng của chúng cũng đều bị phá hủy. Chúng không những luôn ôm ấp mối nơm nớp sợ hãi lo âu mà còn phải chịu đau khổ vì sống trong cảnh mất con, mất nhà… Thật tồi tệ thay! Loài người khôn ngoan hơn tất cả muôn vật, tại sao lại ngoảnh mặt làm ngơ?

2. Theo quan điểm sinh thái môi trường:

Nếu ta lạm đốn cây cối và thiêu đốt núi rừng thì sẽ làm cho đất đai mất đi màu mỡ, tạo nên sự không cân bằng của hệ sinh thái, phá hoại môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, phước lợi quốc gia và sức khỏe của người dân.

3. Theo quan điểm của tôn giáo:

Chặt phá cây rừng sẽ sát hại vô số sinh linh. Kinh Phật chép: Đang lúc chúng ta giết hại loài động vật thì ông bà cha mẹ chúng ta khi chết đi có thể vì việc làm này mà không được tự do tự tại, lại phải chịu khổ đời đời kiếp kiếp”.

4. Theo quan điểm của kinh tế:

Sở dĩ nhân loại và động vật có được và sinh tồn là nhờ ở phần tài nguyên của đất, trong ấy lá cây là phần làm cho đất đai được phì nhiêu và màu mỡ. Nếu ta đốt lá cây thì thật là lãng phí và không tôn quý nguồn sống của tự nhiên, thật chẳng khác nào đi thiêu đốt những tài vật có giá trị kinh tế cao vậy!

Các nhà khoa học nói: Rồi cũng có một ngày nào đó, quốc hội Mỹ sẽ hội thông qua một điều kiện pháp luật để ngăn cấm con người thiêu đốt lá cây” (Theo chứng cứ khoa học về vấn đề không nên đốt lá cây, xin xem rõ trang 60 – 70 quyển “Be your own doctor” của tác giả Ann Vig More, D.D.N).

Thiêu đốt lá cây sẽ dẫn đến ác báo là thọ mạng ngắn ngủi. Theo quyển Công Quá Cách” và quyển hạ bộ “Âm Chất Văn Quảng Nghĩa Tiết Lục” chép:

“Ở Dương Châu, có một  người tên Hà Tự Minh. Thuở bình sinh, ông có dựng một quán trà ở trước chùa Thạch Tháp. Vì trong chùa lúc bấy giờ có rất nhiều cây, nên Hà tiên sinh mỗi ngày đều quét lá cây gom lại thành đống, sau đó châm lửa đốt. Về sau, ông lâm bệnh nặng. Trước khi chết, ông tự nói rằng: “Một đời của tôi do đốt lá cây nhiều không thể kể xiết! Ban đầu, tôi cho rằng không có tội, nhưng nào ngờ bên trong lá cây có vô số loài côn trùng nhỏ nhoi, chúng đều bị đốt cháy cả. Bây giờ, Diêm Vương đem tội sát sanh ra để trừng phạt tôi. Tôi! tôi… thật không có cách chuộc tội nữa rồi!”. Nói xong, ông qua đời.

Qua câu chuyện kể trên, chúng ta cũng có thể lãnh hội được rằng trong cây có mối mọt thì cũng không nên làm củi chụm. Đây là nói đến những gia đình trong lúc đi dã ngoại hoặc dùng củi để đun nước, nấu cơm … phải đặc biệt thận trọng chú ý khi đưa mỗi cây củi vào lò thì phải kiểm tra kỹ xem có mối mọt, nhện con, kiến hoặc những động vật khác hay không, rồi sau mới được chụm. Nếu hoài nghi trong củi có côn trùng thì xin chớ có chất đưa vào hỏa lò để tránh khỏi nhân việc làm nhỏ mà tổn hại đến đại sự. Vì tiết kiệm giá trị của đồ vật chỉ có mấy đồng tiền mà tạo ra nghiệp sát, làm tổn hại đến phước thọ của mình. Việc này sao không tính kỹ ?

Phật dạy: Ngay trong lúc đốt đèn dầu và đèn sáp, xung quanh có rất nhiều loài chúng sanh nhỏ mà mắt thường ta không thấy được. Chúng ở bên ngọn lửa để ăn khói đèn, nếu người dùng miệng thổi tắt đèn thì chúng sẽ bị chết thiêu”. Hàng phàm phu nhục nhãn chúng ta không thể thấy được hiện tượng này, chỉ có thiên nhãn mới thấy, cho nên Đức Phật dạy chúng ta không nên dùng miệng thổi tắt ngọn đèn dầu hoặc đèn nến là vậy! (thấy trong “ Âm Chất Văn Quảng Nghĩa Tiết Lục ” quyển hạ).

IX. THÍ THỰC ĐƯỢC BẢY LOẠI PHƯỚC BÁO:

Kinh “Thí Thực” hoặc “Ngũ Phước Báo” chép: “Người bố thí đồ ăn thức uống đời nay hoặc đời sau sẽ được năm loại phước báo, đó la : Thọ, An, Sắc, Lực và Biện”.

1. Thọ:

Là được thọ mạng lâu dài, nhân vì con người và loài vật đều nương vào ăn uống để duy trì mạng sống. Nếu ta thí xả thức ăn tức là gián tiếp khiến cho chúng sanh kéo dài mạng sống, cho nên được quả báo trường thọ.

2. An:

Là thân tâm được bình an, do vì nhân loại và động vật trong lúc thiếu ăn thì thân tâm bị rối rắm, căng thẳng, thống khổ và bất an. Nếu được ăn uống no đủ thì thân tâm liền an vui và thư thái, cho nên người bố thí các thức ăn đồ uống nhất định sẽ được quả báo thân tâm an lạc.

3. Sắc:

Là được dung mạo và vóc người đẹp đẽ, nhân vì con người và động vật nếu thiếu ăn uống thì thân thể sẽ khô gầy, dung mạo hốc hác và tiều tụy. Thế nên người bố thí đồ ăn thức uống nhất định sẽ được dáng người lý tưởng.

4. Lực:

Là thân thể có khí lực, nhân vì lúc người và động vật nếu thiếu ăn uống thì tứ chi rã rời, đi đứng không nổi. Vì bố thí đồ ăn thức uống tức là gián tiếp cung cấp khí lực cho người được đầy đủ, cho nên đời nay hoặc đời sau sẽ được quả báo khí lực mạnh mẽ.

5. Biện:

Là được biện tài vô ngại, nhân vì con người và động vật đều nhờ vào sự ăn uống, rồi sau mới có thể kêu gọi, nói năng và giảng thuyết. Nếu không có ăn uống thì bụng dạ trống trơn, môi miệng khô ran, tuy có miệng lưỡi nhưng cũng rất khó mà phát huy công năng giảng nói kêu gọi được. Vì bố thí thức ăn đồ uống tức là gián tiếp giúp cho người khác được tài biện luận, cho nên người bố thí thức ăn đồ uống đời nay hoặc đời sau nhất định được biện tài vô ngại (theo quyển 5 “kinh Bốn Mươi Hai Chương Sớ Sao” của đại sư Tục Pháp).

Ngoài ra, người bố thí thức ăn lại được quả báo giàu có, nhân vì đem lòng cung kính và thành khẩn, không có tâm ngạo mạn mà bố thí thức ăn nên đời nay hoặc đời sau được quả báo sanh vào nhà tôn quý. Vả lại, nhân vì thực vật là một loại có giá trị kinh tế hoặc dùng tiền của để mua. Vì vậy, bố thí đồ ăn uống cũng chính là thí xả những tài vật. Người thí xả tài vật thì đời nay hoặc đời sau nhất định sẽ được giàu có, cho nên bố thí đồ ăn thức uống cũng có thể được quả báo giàu có.

Phước báo thí thực rất lớn. Bảy loại phước báo vừa nêu trên chỉ là lược phần cốt yếu mà thôi, cho nên kinh chép : Thí xả đồ ăn uống và thuốc thang cho chúng sanh thì sẽ được công đức không cùng tận ”.

X. TRÍ HUỆ MỜI KHÁCH:

Mời người dùng cơm hay bố thí vật thực cho loài động vật sẽ được bảy quả báo vừa nêu trên, nhưng có hai điều kiện tiên quyết là :

1. Mời khách thì không nên giết hại động vật.

2. Tiền bạc dùng để làm việc bố thí phải có nguồn gốc chính đáng, ví như sát sinh, trộm cướp, tà dâm, lừa đảo, bán rượu, gạt người… đều là những đồng tiền dơ bẩn. Nếu dùng những đồng tiền không thanh tịnh để làm việc bố thí cầu phước thì chẳng những không được hậu quả tốt đẹp mà lại còn có tác dụng phụ (chuốc lấy tai họa).

 

 

Lại nữa, nếu làm thịt gà, thịt vịt, thịt heo… để mời khách thì tự mình không được trường thọ mà còn bị chết yểu nữa. Nhân vì đây là việc làm “đức bất thường thất” (được chẳng bù mất), được một chút nhưng tổn thất thì rất nhiều, như thế thì làm sao mong cầu được hiệu quả ? Thế nên, đại sư Liên Trì là vị cao tăng cuối đời nhà Minh, khuyên chúng ta rằng: Khi sinh nhật, chúc thọ, cúng tế tổ tiên, ma chay, giỗ chạp, kết hôn, tiệc tùng, cầu phước lộc, cầu tiêu tai… đều không nên giết hại sinh vật”.

Đức Phật dạy: Thật không nên ăn thịt, nếu ta ăn thịt loài vật thì bất nhẫn, cũng giống như làm thịt con cái, cha mẹ và những người thân để ăn vậy!” (xem phẩm “Cấm ăn thịt” của kinh “Nhập Lăng Gia”).

Sau đây, chúng tôi xin nêu ra một vài câu chuyện để nói rõ về trí huệ mời khách đãi tiệc:

1. Tiêu chuẩn cứu hộ chúng sanh được thêm tuổi thọ:

Tại huyện Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang, có một vị chửng quan tên Tiêu Chấn. Thuở nhỏ, ông mộng thấy thần nhân mách rằng: “Thọ mạng của ngươi chỉ đến 18 tuổi”. Sau này, cha ông được vua sắc đến Tứ Xuyên, làm tới chức Tổng soái. Ý của Tiêu Chấn là không thích đi cùng cha, vì phụ thân quá ép buộc nên ông đành phải đi cùng đến Tứ Xuyên.

Khi đến nơi, chủ soái bèn thiết yến tiệc để chiêu đãi các tướng sĩ. Khi qua ba tuần rượu, theo lệ thì phải dâng lên một món rau gọi là “ngọc trợ canh”. Phương pháp làm món rau này là trước tiên phải dùng chiếc đũa sắt nướng cho đỏ, rồi sau mới đâm vào trong vú con bò sữa, sữa chảy ra rồi ngưng tụ trên đũa sắt, lại nêm gia vị vào để làm thành món ăn.

Tiêu Chấn tình cờ đi đến nhà bếp, bỗng thấy rất nhiều bò sữa bị trói. Ông lấy làm lạ, bèn hỏi mọi người. Sau khi hiểu rõ sự thật, Tiêu Chấn vô cùng kinh ngạc, trong bụng nghĩ thầm rằng con người chỉ mãi lo ăn cho sướng miệng mình, chớ họ đâu biết rằng những con bò sữa vô tội đang gặp thảm cảnh tàn khốc như thế này ! Thế là ông lập tức đi bẩm báo với thân phụ để xin một điều là “treo bảng cấm ăn”. Từ rày về sau, món rau này bị cấm ăn hẳn để tránh khỏi cảnh những con bò sữa vô tội bị chết thảm thương như thế!

Ít lâu sau, Tiêu Chấn mộng thấy một thần nhân đến nói rằng: “Tâm ngươi nhân từ, đã làm được một việc có công đức thật lớn. Ngươi không chỉ khỏi bị khổ vì chết yểu mà còn được phước thọ trăm năm”. Về sau, Tiêu Chấn quả nhiên sống đến ngoài tuổi 90. Một ngày nọ, thân không bệnh hoạn, ông an tường mà qua đời (theo quyển “Giới Sát Phóng Sanh Văn Đồ Thuyết” của đại sư Liên Trì).

2. Bà Hứa được sống lâu:

Bà Hứa là mẹ của Từ Tứ Dư, ông vốn là một Hàn Lâm học sĩ, nguyên quán ngụ tại huyện Côn Sơn, tỉnh Giang Tô. Hứa Thái phu nhân vốn là người nghiêm trì trai giới, ưa làm việc lành, mỗi ngày lại còn lễ Phật, đọc kinh không lúc nào gián đoạn.

Mùa Đông năm Đinh Dậu, niên hiệu Sùng Trinh triều Minh, là kỳ sinh nhật lần thứ 60 của bà. Theo thường lệ, khi đến ngày sinh nhật, bà vẫn lễ Phật tu phước, thiết trai cúng dường chúng tăng, lại còn đem lễ vật của thân hữu tặng chi phí cho việc khắc bản ấn tống kinh Pháp Hoa để đáp tạ ơn chúc phước của các thân hữu. Buổi yến tiệc không những dùng toàn đồ chay mà còn đem số kinh của bà in ấn ra tặng cho mỗi người một bộ. Người hiểu được đạo lý, ai ai cũng đều tấm tắc khen ngợi về sự viên mãn và công đức thù thắng của buổi chúc thọ này.

Về sau, bà sống đến gần một trăm tuổi, con cháu rất đông, ai ai cũng đều có địa vị và đều thành đạt (theo quyển “ Giới Sát Phóng Sanh Văn Đồ Thuyết ” của đại sư Liên Trì).

XI. TĨNH TỌA ĐƯỢC SỐNG LÂU:

Công hiệu học tập thiền định của Trần Châm :

Trần Châm là người Trần Tùy ở thời Ngũ Đại Thập Quốc. Tổ tiên của ông vốn là người Dĩnh Xuyên, nhân vì vào thời nhà Tấn trốn tránh họa nạn “Ngũ Hồ loạn Hoa” mà lưu lạc đến vùng Hoa Dung – Kinh Châu này.

Ông đã từng đảm nhiệm chức quan “Trung Quán Sam Tướng”. Năm ông 41 tuổi, một hôm tình cờ gặp Trương Quả Lão, tức là một trong tám vị tiên. Trương Quả Lão nói với ông rằng: Trông tướng, tôi thầm đoán là mạng sống của ông sắp kết thúc rồi đấy, chỉ còn một tháng nữa thì ông nhất định sẽ chết thôi!”.

Trần Châm sau khi nghe Trương Quả Lão nói thì trong lòng vô cùng khiếp sợ. Thế là ông tức tốc đi hỏi em của mình là Trí Giả đại sư. Trí Giả đại sư tên thật là Trần Khải, xuất gia năm 18 tuổi, vốn là một vị cao tăng đắc đạo đương thời.

Bấy giờ, Trí Giả đại sư nói với Trần Châm rằng: “Nếu anh nghe lời tôi, dốc lòng thành khẩn mà lo tu hành thì có thể tránh được tai ương năm nay”. Thế là đại sư Trí Giả liền đem phương pháp tĩnh tọa trong nhà Phật gọi là “Thiên thai chỉ quán” dạy cho Trần Châm.

Do vì sanh tử là sự đại nên Trần Châm vô cùng khẩn thiết noi theo phương pháp tĩnh tọa do đại sư Trí Giả chỉ dạy. Hai năm trôi qua, Trần Châm gặp lại vị tiên Trương Quả Lão. Lúc bấy giờ, Trương Quả Lão vô cùng kinh ngạc hỏi rằng: “Ông vẫn sống tới ngày hôm nay ư? Lẽ nào ông uống được thuốc tiên trường sanh bất lão?”.

 Trần Châm đáp: “Thật không phải! Số là như vầy: Em tôi là Trí Giả đại sư, dạy tôi tu tập thiền định, cho nên mới có thể sống được đến ngày hôm nay”.

Trương Quả Lão nghe Trần Châm nói xong, thật vô cùng cảm động, nói : “Phật pháp thật không thể nghĩ bàn, có thể khiến cho người sắp chết được hồi sinh. Thật kỳ lạ thay! Thật kỳ lạ thay!”.

Mấy năm sau, có một hôm, Trần Châm đột nhiên mộng thấy cung điện ở trên không và trên cung điện có bảng đề rằng: “Đây là cung đường của Trần Châm. Mười lăm năm sau, ông ta mới sanh về đây”. Quả thật mười lăm năm sau, Trần Châm dự đoán được ngày mình chết. Trước lúc lâm chung, ông cùng với các thân bằng quyến thuộc nói lời từ biệt, sau đó ông ngồi kiết già an tường mà qua đời.

Kỳ thật, sống lâu và sanh về cõi trời chẳng qua chỉ là một phần lợi ích tơ tóc của phép thiền định trong nhà Phật mà thôi, chứ chẳng phải là mục tiêu cứu cánh. Vậy mục tiêu của người tu Phật là phải làm sao được liễu sanh thoát tử, thành tựu được trí tuệ vô thượng và viên mãn được việc hóa độ khắp tất cả chúng sanh vậy! (theo Tu Tập Chỉ Quán Tọa Thiền Pháp Yếu Giảng Thuật).      

                                               

XII. LỄ PHẬT VÀ SÁM HỐI, THỌ MẠNG ĐƯỢC LÂU DÀI:

Vào thời Nam Bắc triều, có vị xuất gia tu hành, mọi người đều tôn xưng Ngài là “Sủng pháp sư”.

Năm 28 tuổi, Ngài được một vị đạo nhân đến xem tướng, hiệu là Pháp Nguyên. Vị ấy nói với Sủng pháp sư rằng: “Tướng ông chỉ sống đến 40 tuổi, thật khó hơn được, trừ khi ông kiền thành cầu nguyện chư Phật gia hộ, đồng thời lễ bái sám hối cho nghiệp chướng tiêu trừ thì may ra có được chút hy vọng”.

Sủng pháp sư nghe đạo nhân nói xong, Ngài bèn cầm chiếc gương lên soi để nghiệm chứng đúng sai. Quả nhiên, có một vầng khí đen trên gò má. Thế là Ngài bèn đem hết tất cả những đồ đạc đã mang theo bên mình từ bấy lâu nay ra bán hết để mua hương hoa đến chùa Quang Hưng ở Hải Diêm cúng dường, đồng thời xin ở lại để bế môn tu tập. Từ đấy về sau, suốt ngày Sủng pháp sư dốc lòng sám hối, lễ Phật, sư từ chối và bặt dứt hết mọi chuyện thế tục. Suốt ngày, sư không chỉ lo tinh tấn tu tập đến quên cả ăn uống và nghỉ ngơi, mà đêm đến cũng không có thì giờ để thay y phục ngủ nghỉ.

Mùa Đông năm ấy, sư được 40 tuổi. Một hôm, pháp sư bỗng nhiên cảm thấy hai tai của mình vừa sưng phù lên, lại vừa đau nhức. Đang lúc ấy, sư bất chấp mọi bệnh tật hành hạ thân thể mà chỉ dốc lòng thành nhất tâm lễ Phật sám hối. Mãi đến khi trời vừa rạng sáng, Ngài chợt nghe dường như có tiếng người nói rằng : “Nghiệp chết của ông bây giờ đã tiêu trừ rồi!”. Lúc ấy, Ngài hé cửa sổ ra nhìn thì không thấy ai cả. Kịp đến khi trời sáng hẳn, Ngài đem gương ra soi thì thấy vầng khí đen ở trên gò má mình đã hoàn toàn tiêu mất. Sự đau đớn và sưng phù ở hai tai cũng bớt dần. Kể từ đấy, mỗi ngày pháp sư lễ Phật một trăm lạy, không lúc nào gián đoạn. Cho dù có bị bệnh đến lâm sàng đi nữa, pháp sư cũng phải ở trên giường bệnh, dốc lòng chắp tay quán tưởng lễ Phật một trăm lạy. Về sau, Ngài sống đến 74 tuổi, lại còn được thiện chung (biết trước ngày viên tịch) (theo “ Truy Môn Sùng Hạnh Lục ” của đại sư Liên Trì).

XIII. THÀNH TÂM TỤNG KINH CŨNG ĐƯỢC THỌ MẠNG LÂU DÀI:

Vào thời Nam Bắc triều, có một vị xuất gia pháp hiệu là Trí Tạng ở chùa Khai Thiện-– Chung Sơn. Một hôm, Ngài gặp một tướng sĩ nổi tiếng, chợt ông ta nói rằng: “Pháp sư thật là người thông minh cái thế, nhưng chỉ tiếc rằng thọ mạng của Ngài quá ngắn, chỉ sống đến 31 tuổi thôi”.

Lúc bấy giờ, pháp sư Trí Tạng đã 29 tuổi. Thế là Ngài bắt đầu đình chỉ mọi công việc giảng dạy, chỉ dốc lòng thành tụng kinh Kim Cang. Mỗi ngày, sư đem tâm khẩn thiết lễ Phật sám hối, đêm cũng như ngày không lúc nào ngơi.

Bước sang năm 31 tuổi, Pháp sư gặp lại vị tướng sĩ đã từng xem tướng mình thuở trước. Ông ta thấy Ngài vẫn còn sống, bèn tỏ vẻ kinh ngạc, hỏi nguyên nhân, mới vỡ lẽ ra là năng lực của Phật pháp và kinh điển thật không thể nghĩ bàn (theo Truy Môn Sùng Hạnh Lục).

XIV. THẦN TIÊN CŨNG KHÔNG THỂ SỐNG MÃI:

Người thường chúng ta thật khó tưởng được mạng sống dài ngắn và sự an tĩnh trong lòng có mối quan hệ rất mật thiết. Nếu công phu tu tập thiền định và an tĩnh trong tâm linh đạt đến đỉnh cao thì thọ mạng cũng theo đấy mà tăng trưởng.

 Bộ “A Tỳ Đàm Luận” chép: “Căn cứ vào sức hành thiện cao hay thấp mà được sanh lên cõi trời ở mỗi bậc khác nhau, cho nên gọi là Dục Giới Thiên”.

Trời Dục Giới có cả thảy 6 tầng:

1. Trời Tứ thiên vương sống 500 tuổi (bằng 990 vạn năm ở nhân gian). Một ngày một đêm ở cõi trời bằng 50 năm tại nhân gian: 360 x 50 x 500 = 9.000.000

2. Trời Đao Lợi sống 1000 tuổi. Một ngày một đêm ở cõi trời bằng 100 năm tại nhân gian

 

 

3. Trời Dạ Ma sống 2000 tuổi. Một ngày một đêm ở cõi trời bằng 200 năm tại nhân gian.

 

 

4. Trời Đâu Suất sống 4000 tuổi. Một ngày một đêm ở cõi trời bằng 400 năm ở nhân gian.

 

 

5. Trời Hóa Lạc sống 8000 tuổi. Một ngày một đêm ở cõi trời bằng 800 năm ở nhân gian.

 

 

6. Trời Tha Hóa Tự Tại sống đến 1 vạn 6000 tuổi. Một ngày một đêm ở cõi trời bằng 1600 năm ở nhân gian.

 

 

Sáu cõi trời nói trên là do công đức tu hành thiện pháp mà đạt được, nhưng vì trong tâm còn có tính dục, không tu tập thiền định, cho nên thọ mạng không được lâu lắm. Cho dù là trời hay người, nếu dụng công tu tập thiền định đúng pháp thì thọ mạng rất dài. Cho nên, bộ “ Luận A Tỳ Đàm” lại chép: “Mạng sống ở cõi trời dùng “kiếp” để tính đơn vị. Nếu công phu tu tập thiền định càng sâu thì thọ mạng càng dài”. Trời và người có tu tập thiền định, đầu tiên thọ mạng của họ được sắp xếp theo nửa trung kiếp.

Thọ mạng ở cõi trời Phạm Chúng là nửa trung kiếp, thọ mạng ở cõi trời Phạm Phụ là một trung kiếp và thọ mạng ở cõi trời Đại Phạm là một trung kiếp rưỡi (ba vị trời này ở cõi Sơ Thiền).

Thọ mạng ở cõi trời Thiểu Quang là hai đại kiếp, thọ mạng ở cõi trời Vô Lượng Quang là bốn đại kiếp và thọ mạng ở cõi trời Quang Âm là tám đại kiếp (ba vị trời này ở cõi Nhị Thiền).

Thọ mạng ở cõi trời Thiểu Tịnh là 16 đại kiếp, thọ mạng ở cõi trời Vô Lượng Tịnh là 32 đại kiếp và thọ mạng ở cõi trời Biến Tịnh là 64 đại kiếp (ba vị trời này ở cõi Tam Thiền).

Thọ mạng ở cõi trời Vô Vân là 125 đại kiếp, thọ mạng ở cõi trời Phước Sanh là 250 đại kiếp, thọ mạng ở cõi trời Quảng Quả là 500 đại kiếp, thọ mạng ở cõi trời Vô Phiền là 1000 đại kiếp, thọ mạng ở cõi trời Vô Nhiệt là 2000 đại kiếp, thọ mạng ở cõi trời Thiện Kiến là 4000 đại kiếp, thọ mạng ở cõi trời Thiện Hiện là 8000 đại kiếp và thọ mạng ở cõi trời Sắc Cứu Cánh là 1 vạn 6000 đại kiếp (chín vị trời này ở cõi Tứ Thiền).

Ngoài ra, còn có 4 tầng trời ở cõi Vô Sắc Như: Thọ mạng ở cõi trời Vô Biên Xứ là 2 vạn đại kiếp, thọ mạng ở cõi trời Thức Vô Biên Xứ là 4 vạn đại kiếp, thọ mạng ở cõi trời Vô Sở Hữu Xứ là 6 vạn đại kiếp và thọ mạng ở cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là 8 vạn đại kiếp (bốn vị trời này ở cõi Tứ Không).

Thật ra thì thọ mạng của các cõi trời đều không có vĩnh hằng. Cho dù là trời Phi Phi Tưởng Xứ sống thọ đến 8 vạn đại kiếp đi nữa, nhưng khi sống qua hết 8 vạn đại kiếp ấy, rốt cuộc cũng phải bị sanh tử đổi trôi trong ba nẻo sáu đường. Chỉ có người hay vâng theo lời Phật dạy mà nỗ lực tinh tấn đoạn trừ hết mọi tham ái, ngã chấp và phiền não ràng buộc thì mới có thể đạt được cảnh giới giải thoát chân chính và có được một đời sống an lạc vĩnh hằng bất tận.

Trong kinh Phật, có một hạng người được gọi là “thánh nhân”. “Thánh nhân” ở đây được chia làm những bậc như sau:

  • Người tu tập chỉ biết tự tu và tự độ cho mình được giải thoát thì gọi là A La Hán và Duyên Giác.

 

  • Người rộng làm lợi ích giáo hóa chúng sanh mà không nghĩ đến thân mình thì gọi là Bồ Tát.

 

  • Người tu tập toàn thiện được hai phương diện là trí huệ và giáo hóa chúng sanh viên mãn thì gọi là Phật.

 

Hay nói khác hơn, người chỉ biết tự lợi thì gọi là A La Hán và Duyên Giác. Người tu tập hạnh lợi tha thì gọi là Bồ Tát. Người hoàn bị cả tự lợi và lợi tha thì gọi là Phật.

Một tiểu kiếp lấy mốc thời gian khi con người còn sống đến tám vạn bốn ngàn tuổi. Cứ mỗi một trăm năm thì sống giảm một tuổi, giảm mãi đến mức mười tuổi thì dừng lại và cũng từ đây cứ mỗi một trăm năm thì lại sống tăng thêm một tuổi, tăng mãi cho đến khi con người sống đến tám vạn bốn ngàn năm thì dừng lại. Cứ thế, một lần tăng, một lần giảm thì gọi là một tiểu kiếp. Nếu dùng toán học để tính thì một tiểu kiếp gần bằng một ngàn sáu trăm bảy mươi chín vạn tám ngàn năm :

(84.000 x 10) x 100 x 2 = 16.798.000

Một trung kiếp gồm có 20 tiểu kiếp. Một trung kiếp tổng cộng có ba ức bốn ngàn năm trăm chín mươi sáu vạn năm.

Một đại kiếp phải trải qua bốn giai đoạn : Thành, trụ, hoại và không. Vậy một đại kiếp có mười ba ức bốn ngàn ba trăm tám mươi bốn vạn năm và cũng là một niên số của thế giới từ thành đến hoại :

16.798.000 x 20 x 4 = 1.343.840.000

XV. ĐỊA NGỤC MUÔN KIẾP KHỔ MÃI  KHÔNG VUI :

Thế thường người ta nói: “Kẻ nào làm việc ác, sau khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục”. Nhưng hiểu rõ về vấn đề thọ mạng và tình huống thống khổ trong chốn địa ngục, chắc ấy là vấn đề không ai quan tâm đến. Nhân vì loại thống khổ ở chốn địa ngục thiên biến vạn hóa. Vả lại, mức độ thọ khổ ở chốn địa ngục chẳng phải là điều mà con người phàm phu như chúng ta tưởng tượng được. Địa ngục không chỉ là nơi chịu sự đau khổ thê thảm nhất, lại còn tuổi thọ của chúng sanh ở đấy rất lâu, cho nên chúng ta cũng mường tượng được những cực hình dày vò ở đấy là như thế nào rồi!

Trong kinh Phật miêu tả địa ngục rất rõ, ví như kinh “Địa Tạng”, kinh “Quán Phật Tam Muội”, kinh “Khởi Thế”, kinh “Chánh Pháp Niệm Xứ”, kinh “Trường A Hàm ”… đều ghi chép rất rõ nguyên nhân sanh vào địa ngục và hoàn cảnh chịu khổ ở đấy. Nói ra lại càng thêm bất nhẫn, xin quý độc giả tự tìm xem.

 Theo bộ “Luận A Tỳ Đàm” chép: “Thời gian chịu khổ nơi địa ngục còn lâu hơn thọ mạng ở cõi Trời Dục Giới”. Thật là “ Độ nhật như niên ” (sống ngày tày năm).

 

 

3.1.Ngũ Phước Lâm Môn
213146
Total Visit : 111458