Thứ 4, ngày 28 tháng 9 năm 2022
"KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN 2022- PL. 2566" Hạnh phúc thay chư Phật ra đời Hạnh phúc thay giáo pháp cao minh. Hạnh phúc thay Tăng Già hòa hợp. Hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu.

Chương V

Chương V Sách:

CHƯƠNG V

THIỆN CHUNG.

I. THIỆN CHUNG LÀ ĐIỀU RẤT KHÓ :

Phước sau cùng trong ngũ phước là khảo cứu về giai đoạn cuối cùng của đời người, tức lúc sắp chết. Giai đoạn cuối cùng trong ngũ phước gọi là “thiện chung” hay thông thường người ta gọi là “chết tốt.

Thiện chung là một vấn đề rất khó, dường như ít ai đạt được. Giả như bạn từng thấy trạng thái giẫy giụa của người khác lúc sắp chết, chắc chắn bạn sẽ cảm nhận được sự đau thương trước phút chia lìa ấy và than rằng: “Mô Phật, suốt đời con thật không mong cầu gì khác, chỉ mong sao cho con khi chết êm xuôi là được rồi”.

Thường thì người lúc sắp lìa đời đều lâm vào cảnh “thủ mãng cước loạn” (chân tay giẫy giụa múa máy lung tung), không làm chủ được sáu căn; bàng hoàng như con cua trong chảo nước sôi, như con kiến trong nồi đun nóng; trên thân lại sanh ra những cảnh tượng rùng rợn như gân cốt co giật, mắt thì trợn trắng, cứ nằm thoi thóp thở dốc. Phật dạy: “Nỗi đau khổ của người sắp chết thật giống như con rùa bị lột xác vậy!”. Thường thì chúng ta nhìn thấy cảnh tượng giẫy giụa, miệng mếu máo khóc than rên rỉ…, đó chẳng qua là tử nghiệp hiện ra bên ngoài mà thôi. Kỳ thật trong lòng thì vô cùng sợ hãi và đau khổ vì phải chia lìa những người thân hoặc vì vướng mắc bởi con tôi, vợ tôi… Tôi thật không muốn lìa xa hay vì hạnh nguyện chưa tròn. Bên cạnh đó, lại còn có những nỗi lo toan về của cải… làm cho tâm thức rơi vào cảnh bàng hoàng thê thảm, tự nhiên cảm thấy mình lạc lỏng bơ vơ không nơi nương tựa, đó mới thật là điều khó hình dung được!

Người giàu sang tột bậc không hẳn ai ai cũng có được thiện chung. Người sống lâu trăm tuổi cũng không nhất định được an tường mà xuôi tay nhắm mắt. Thử nhìn lại, từ xưa đến nay, có rất nhiều bậc anh hùng hào kiệt. Họ đã từng tung hoành ngang dọc khắp năm châu bốn bể, oai lực của họ có thể dời non lấp biển. Nhưng than ôi, đến lúc lâm chung, đã có mấy ai được nhẹ nhàng để vĩnh viễn ra đi! Ví như nhà văn học Hải Minh Oai, Xuyên Đoan, Khang Thành, Tam Đảo, Vưu Kỷ Phu, họa sĩ Phạm Dung, Lạc Đế…, họ là những người một thời lừng danh khắp thế giới. Vậy mà ai ai cũng đều tìm đến cái chết bằng cách tự sát. Nhà sinh vật học Đạt Nhĩ là người tài, nổi tiếng khắp thế giới. Vậy mà về già, hệ thần kinh não bị suy nhược rất nghiêm trọng. Nhà thiên tài âm nhạc Mạc Trát Đặc khi lâm chung chỉ có sáu người đưa ông đi chôn; đã thế, giữa đường lại còn bị một trận mưa to. Nhưng tấn bi kịch vẫn không dừng tại đây, sau rốt thì chỉ còn lại có một người lôi chiếc quan tài của ông đến mộ phần.

Ai vinh hoa, ai tài giỏi, có còn chăng hay cuối cùng chỉ còn lại trơ trọi một nấm mồ để thân vùi xuống lòng đất lạnh ?

Lại có người vì đi chinh chiến, phải bỏ thân ở trận mạc. Có người bị bức ngặt, phải mất chức và bị soán ngôi. Cũng có người bị đưa đi đày và bị xử bắn chết. Có người bị thuốc chết, lại có người bị nạn năm ngựa phanh thây và ngàn đao muôn giáo, thậm chí có người chết rồi còn bị roi đánh vào thân và bị tru di cửu tộc…

Tóm lại, muốn được thiện chung không phải là chuyện dễ, nhân vì chúng ta không biết khi nào Diêm Vương sẽ mời mình về nơi âm cảnh và lại càng không biết khi lâm chung thì chúng ta sẽ gặp những chướng ngại gì ! Cái chết có thể đến với chúng ta bất cứ lúc nào. Có lẽ là sang năm, ngày mai hay ngay bây giờ ! Than ôi ! Nẻo “ huỳnh tuyền” không kể ai trẻ ai già đâu. Mọi người nên dốc lòng tu tập để vượt qua cửa ải sanh tử này.

II. TÍNH TRỌNG YẾU CỦA THIỆN CHUNG:

Vì sao nói rằng thiện chung là điều rất trọng yếu? Giả như có một người không chết ở phòng ngủ của mình mà lại chết vì tự tử, xe cán, ung thư, đói khát, chết thiêu, chết chìm, bị giết chết … thì những người xấu số ấy có thể chất chứa mối hận thù trong lòng. Nếu trong lòng có sự oán hận thì nhất định sẽ đầu thai vào cảnh giới bất hảo, ví như làm thân rắn độc, thú dữ … để đòi lại mối thù xưa.

Thế nên, kinh “Thập Nhị Phẩm Sanh Tử” chép: “Nếu như người hưởng hết phước rồi trở lại sống cảnh đói khát mà chết đi thì họ rất có thể biến thành loài ngạ quỷ, người bị gông cùm mà chết thì đời sau thường làm súc sanh, người bị chết thiêu phần nhiều rơi vào địa ngục… ”.

Lại nữa, khi bị hoạnh tử, thân thể phải chịu nỗi khổ sở rất lớn, trong lòng luôn buồn bực và oán hận, không những rất khó giữ được chánh niệm mà trong tâm lại dấy lên sự phẫn hận não phiền rất dễ dàng dẫn đến cảnh oán trời trách người. Thật đáng thương thay, biết bao công đức tu hành tích lũy từ bấy lâu nay, vậy mà chỉ trong chốc lát đều tan tành theo mây khói!

Thế nên, người xưa dạy chúng ta phải thường phát nguyện: “Nguyện cho con đến lúc mạng chung, thân không bệnh khổ, tâm không tham tiếc, ý không điên đảo và được các bậc thánh dẫn dắt”. Lại nguyện:

Nguyên văn:

Nguyện tiêu tam chướng, trừ phiền não

Nguyện đắc trí huệ, chơn minh liễu

Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ

Thế thế thường hành Bồ tát đạo.

Dịch nghĩa:

Nguyện cho não chướng tiêu tan

Nguyện được trí tuệ thênh thang rạng ngời

Nguyện tiêu tội chướng bao đời

Kiếp kiếp tinh tấn giữ lời độ sanh.

Hay

Nguyên văn:

Nguyện ngã lâm chung vô chướng ngại

Di Đà, thánh chúng viễn tương nghinh

Tấn ly ngũ trược sanh Tịnh Độ

Hồi nhập Ta Bà độ hữu tình.

Dịch nghĩa:

Nguyện con sắp mất hết chướng hình

Di Đà, thánh chúng đến cung nghinh

Mau lìa năm trược về Tây độ

Trở lại trần gian vớt chúng sinh.

III. CÁC LOẠI THIỆN CHUNG:

Có người thì cái chết đến quằn quại, hành hạ xác thân, tê liệt tâm thần và nặng nề như núi Thái. Có người thì cái chết đến nhẹ nhàng như chiếc lông hồng bay bổng, phút chốc lại thư thả ra đi. Thật đáng trách cho những người sống cuộc đời cẩu thả, cuộc đời đầy dẫy tội ác, chi bằng ta xả bỏ “cái ta” trong cuộc sống để giữ lấy tiết nghĩa, như thế thì mới đáng quý! Lại có người vì lợi ích của chúng sanh mà phải gánh chịu bao cảnh khốn khó nhọc nhằn. Nếu như người có hạnh nguyện xấu xa thật lòng cứu giúp người khác thì cho dù vào trong nước sôi lửa bỏng để làm điều thiện, đem lại niềm vui cho người khác thì họ sẽ sẵn sàng hy sinh tất cả. Cho nên, chúng ta muốn đánh giá về một con người thì mình phải quán xét xuyên suốt về những hành vi cao thượng hay thấp hèn của họ lúc bình sinh, chứ đừng nên chỉ ghi nhận bằng cảm quan qua trạng thái lâm chung của họ để phán định lẽ tốt xấu, nên hư về đức tánh của một con người.

Kinh chép: “Thuở xưa, có một người phụ nữ vì cứu đứa con của mình mà phải bị chết đuối, thế mà người phụ nữ ấy còn được sanh lên cõi trời, huống gì ta hy sinh xác thân tứ đại đầy ô hợp và bệnh tật này để làm lợi ích cho chúng sanh thì công đức ấy to lớn biết dường nào!”.

Trong kinh “Thập Nhị Phẩm Sanh Tử”, Đức Thế Tôn có miêu tả về 12 trạng thái tử vong khác nhau. Nhân vì trong quyển kinh ấy có liên quan đến rất nhiều thuật ngữ chuyên môn nên chúng tôi không tiện kể ra đây. Hiện tại, với kiến giải nông cạn, chúng tôi xin đem trạng thái thiện chung chia làm ba loại như sau:

1. Tiểu thiện chung:

Không gặp cảnh hoạnh họa bất ngờ, không có bệnh tật mà qua đời.

2. Trung thiện chung:

Chẳng những không có bệnh khổ mà còn không có oán hận hay áy náy trong lòng. Đây thật là  ngưỡng bất quý ư thiên, phủ bất tộ ư địa, an tâm nhi thệ thế” (ngẩng lên không hổ với trời, cúi xuống không thẹn với đất, an tâm mà qua đời).

3. Đại thiện chung:

Tự mình biết trước thời gian lâm chung, thân tâm không bị ngăn ngại bởi nghiệp lực, tự tại giải thoát mà lìa đời, thậm chí tự mình còn thấy chư Phật và Bồ tát đến nghinh tiếp vãng sinh về cõi Tịnh của chư Phật và Bồ tát. Đây mới thật là một nhân sinh hoàn mỹ. Cao siêu thay! Cao siêu thay!

IV. NGUYÊN NHÂN CỦA THIỆN CHUNG:

Người có được điều thiện chung tuyệt đối thì không nên ỷ vào đó mà sanh lòng kiêu hãnh, đó nhất định là do rộng tu phước huệ mới đạt được. Thiện chung cùng với thiện nghiệp ở đời quá khứ có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhưng điều tối quan trọng là do tâm linh của chúng ta an tĩnh và có vun trồng đạo đức ở đời nay. Trừ phi chúng ta hay rộng chứa âm đức, ngăn dứt các vọng niệm và dốc chí công phu tu tập, nếu không thì lúc mạng chung rất khó được tự tại. Nói về nguyên nhân của thiện chung thì rất nhiều, nhưng phần đại khái lại không ra ngoài ba điều kiện sau:

1. Chẳng làm các điều ác:

Không nên làm những việc như sát hại động vật, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu…; không làm việc đuối lý; không chiếm đoạt những tiện nghi của người để tránh khỏi oán cừu mỗi ngày càng sâu dày chồng chất. Đến lúc lâm chung, những oán cừu trái chủ ấy ùa nhau kéo đến làm nhiễu loạn và ngăn cản sự giải thoát của chúng ta.

 Phẩm thứ tám, kinh “Địa Tạng” chép: “Người làm lành, lúc lâm chung cũng có trăm ngàn vị quỷ thần ở đường ác biến thành bà con, cha mẹ đến dắt chúng ta đi vào đường ác chịu khổ, huống chi người thuở bình sinh đã từng tạo ra ác nghiệp ư?”.

2. Vâng làm các điều lành:

Thường phát ra những lời thệ nguyện làm lợi ích cho chúng sanh, sau đó cứ theo hạnh nguyện ấy mà thực hành, ví như chúng ta thường phóng sanh, cứu giúp người gặp khốn cùng hoạn nạn, in kinh, tạc tượng, cúng dường chư tăng… Nếu thường ngày chúng ta rộng kết duyên lành thì không những thân tâm được nhiều khoái lạc mà lúc lâm chung thường được chư Phật và Bồ tát hộ niệm giúp đỡ và dẫn dắt chúng ta sanh về cõi lành để khỏi bị đọa lạc vào ác đạo. Thế thì còn điều tốt nào bằng !

3. Tự sạch ý chí mình:

Không luận là làm lành, đọc tụng kinh điển, tham thiền, niệm Phật…, tất cả đều quy nhiếp về lẽ “tự sạch ý chí mình”, thế mới được thọ chung. Ngoài ra, chúng ta cần phải định thần tu tập, trong 12 giờ đồng hồ thì thường phải thúc liễm tâm ý. Tuy cuộc sống khó khăn hàng ngày phải giải quyết muôn ngàn công việc, nhưng quan trọng hơn hết là phải giữ tâm thanh tịnh. Việc tuy bận nhưng tâm không bận. Nếu chúng ta hay nỗ lực tu tập được như vậy thì khi lâm chung, tâm sẽ không có sự câu thúc và tham luyến.

V. ĐIỀM DỰ BÁO CỦA THIỆN CHUNG:

Kinh “Tịnh Độ Tam Muội” chép: “Nếu như có người hàng ngày luôn làm việc lành, lúc sắp chết nhất định được sanh về cõi trời. Người ấy nhìn thấy chư thiên tay cầm thiên y và trỗi các thứ nhạc trời để tiếp rước họ. Giả như người tạo ác thì phải đọa vào địa ngục, đến lúc lâm chung liền thấy rất nhiều quỷ sứ tay cầm gươm đao dáo mác, đến vây quanh họ. Tuy chỗ thấy của hai người này chẳng đồng nhau, nhưng trong miệng thì nói không ra lời, chỉ theo nghiệp lực thiện hay ác của họ đã tạo tác mà thọ báo”.

Kinh “Hoa Nghiêm” chép: “Người khi sắp chết, sẽ thấy được thân trung ấm (tức thần thức, người tục gọi là linh hồn). Người bình thường tạo ác nhìn thấy tự mình ở trong ba đường địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh, chịu vô lượng khổ não, có lúc thấy vua Diêm La và quỷ sứ cầm dao mác gậy gộc đến bắt người ấy dẫn đi, có lúc thì nghe tiếng rên rỉ của những chúng sanh thọ khổ trong ba đường ác. Người khi còn sống thường làm việc lành thì lúc sắp mất đi, sẽ được sanh về cõi trời, đến khi ấy sẽ trông thấy cung điện trang nghiêm rực rỡ trên trời, dường như tiên nữ đang vui đùa khoái lạc tột bậc”.

Người thường hay bắt cá khi sắp mất thì trông thấy vô số loài cá lớn nhỏ đến vây quanh đòi mạng. Người bắt chim lúc lâm chung thì nhìn thấy rất nhiều chim chóc kêu réo đuổi theo họ. Người giết trâu bò khi lâm chung thì trông thấy đàn trâu bò hiện hình ở chỗ chúng bị giết để đòi mạng. Thậm chí lúc họ chưa chết, người khác thấy kẻ đồ tể này đã biến thành một con trâu. Đây là điềm báo người ấy sắp đầu thai vào ác đạo. Kinh “Địa Tạng” còn có chỗ gọi là: “Luận đối theo nghiệp báo nặng hay nhẹ mà đi thọ sanh”.

Phẩm thứ sáu, kinh “Địa Tạng” chép: “Có người trước lúc lâm chung, phải chịu bệnh tật rất lâu, muốn sống không được, muốn chết cũng chẳng xong, thường mộng thấy ác quỷ và người thân ở trong nhà; có lúc đi trên các đường nguy hiểm; có lúc phát giác thấy mình bị quỷ đè, muốn động đậy cũng không được; hoặc cùng đi với quỷ thần. Gặp các cảnh sợ hãi như thế, lâu ngày thân thể trở nên yếu đuối, bệnh tình càng nghiêm trọng, mỗi đêm đều không an giấc, thậm chí trong lúc thức cũng kêu réo sầu khổ suốt ngày. Những cảnh tượng vô cùng thê thảm như thế, mảy may cũng không có lúc nào vui. Đây đều là do những nghiệp ác ở đời quá khứ tạo thành. Nhân vì oan gia của họ ở âm ty báo cho họ rằng : Vì tội ác chưa phân định là nặng hay nhẹ, cho nên họ rất khó mà xuôi tay nhắm mắt và bệnh tật cũng rất khó giảm.

Nếu gặp những điều dữ như vậy, chúng ta nên vì họ mà niệm danh hiệu của Bồ tát Địa Tạng, lại rộng tu tạo phước lành, hồi hướng cho oan gia và chính thân họ mau được giải thoát mọi sự ràng buộc ”.

VI. QUAN HỆ GIỮA THIỆN CHUNG VÀ ĐIỀM MỘNG:

Chúng tôi muốn mọi người biết được đáp án của câu hỏi: “Mình đời nay có được thiện chung không?”.

Chuyện này thật ra không khó, chỉ cần chúng ta nhớ lại những hành vi của mình đã làm ở trong mộng thì có thể định đoán được, nhân vì “nhật hữu sở tư, dạ hữu sở mộng” (ban ngày có điều suy nghĩ, ban đêm ắt sẽ nằm mộng). Căn cứ theo những việc mà ta thường làm trong giấc mộng thì có thể phản ánh được những điều tốt hay xấu của mình trong khi tu dưỡng. Cơn loạn mộng xảy ra đương nhiên là biểu hiện vọng niệm chưa được điều phục, hễ vọng niệm chưa được điều phục thì chắc chắn mức công phu tu tập chưa được hoàn hảo, tu tập chưa được hoàn hảo thì làm sao có thể được thiện chung?

Đại sư Tử Bá vốn là một cao tăng đời Minh, Ngài dạy: Trong lúc thức cũng như ngủ, phải thường niệm Phật, không để gián đoạn thì mới có thể giải thoát được cái khổ của sanh tử, được vậy thì chắc chắn sẽ thiện chung. Nếu công phu không được bền chắc thì lúc lâm chung lại không được thọ dụn”.

Nhân vì thiện chung và giấc mộng có liên quan mật thiết với nhau, nên đại sư Tử Bá bảo: “Nếu như chúng ta muốn mau thành tựu thì mau có được thiện chung hoặc sanh về cõi Tịnh của chư Phật và Bồ tát. Hàng ngày, buổi sáng khi thức dậy, chúng ta phải nên phản tỉnh giấc mộng đêm qua. Giả như đêm qua trong mộng rối loạn tơi bời thì sáng nay phải nên thương tâm, buồn đau và rơi lệ như mất cha mẹ, sau đó trách móc tự đánh vào  thân, khẩn thiết sám hối và phát nguyện, lại càng nỗ lực tiến tu. Mỗi ngày nếu làm được như thế thì sức tu tập, sự rèn luyện và tâm trí của chúng ta nhất định sẽ tiến bộ một cách nhanh chóng”.

Vì muốn cho các bạn hiểu rõ tại sao trong mộng, tâm trí chúng ta rối loạn lung tung, nên chúng tôi xin nói rõ về các loại mộng như sau :

Theo “Luật Thiện Kiến” chép, mộng được chia làm bốn loại:

1. Bốn đại không hòa nên sanh ra mộng:

Đây là do các cơ năng trong thân thể không được điều hòa, cho nên sanh ra mộng. Ví như trong giấc ngủ, ta thấy núi lở hoặc thấy thân mình bay bổng trên không, hoặc thấy sư tử, cọp, sói … rượt mình. Đây đều là những giấc mộng hư ảo, không có thật.

2. Mộng do thấy trước:

Giống như người xưa thường nói: “Ngày có điều lo nghĩ, đêm ắt có điềm mộng mị”. Nhân vì trước xem thấy những sự vật và hiện tượng gì thì những ấn tượng ấy in sâu vào tiềm thức, cộng thêm sự nhớ nghĩ liên tục không gián đoạn của ta, nên cuối cùng sẽ hiện ra trong cảnh mộng. Đây cũng là thứ giả mộng, không có thật.

3. Trời người mộng:

Các vị thiên thần vì người hành thiện, thị hiện ra cảnh mộng lành cốt để cho họ tiếp tục hành thiện. Các vị ấy lại vì người tạo ác mà thị hiện ra cảnh mộng xấu và làm cho họ sợ hãi nhằm ngăn chặn và đe dọa họ đừng làm những chuyện ác sau này. Loại mộng này là điều có thật.

4. Mộng do tưởng tượng:

Điềm mộng này là nhân vì những người đã tạo ra phước đức và tội chướng ở đời quá khứ mà cảm vời ra, ví như người có phước đức thường mộng thấy những việc làm thiện và điềm lành, còn người có tội thì thường mộng thấy những cảnh bất thiện và sợ hãi, mộng thấy mình đang lễ Phật, tụng kinh, trì giới, bố thí … Nhưng đây cũng thuộc về loại “tưởng” mộng. Mộng thấy làm việc thiện và các điềm lành tuy không thật, nhưng chúng cũng rất có ích lợi cho việc tu dưỡng đạo đức của chúng ta.

Cho nên, khi mộng thấy cảnh lộn xộn lăng xăng, tuy những cảnh ấy vốn có trong thực tại, nhưng đối với đức hạnh của chúng ta thì lại là điềm mộng không có ích.

Các bạn cũng đừng nên xem thường những cảnh ở trong mộng, nhân vì sự cảm thọ trong mộng rất chân thật, nó là điều cốt lõi để chúng ta tu dưỡng đạo đức. Giấc mộng cũng được chia làm ba loại: Thiện, ác và không thiện không ác. Chúng ta mộng thấy lễ Phật, nghe kinh, thuyết pháp, cứu người…, đây thuộc về mộng lành và công đức. Mộng thấy tự mình sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ…, những việc này thuộc về ác mộng. Mộng thấy củi, lửa, gạo, dầu, muối, đi đến cửa hàng bách hóa, đi công viên chơi…, đây thuộc về loại không thiện không ác. Mộng thấy làm thiện giúp chúng ta thích thú mà tinh tấn nỗ lực tu tập đạo đức, còn mộng thấy làm chuyện tạp như tạo ra việc ác và thấy những cảnh sinh hoạt thế tục là biểu thị chúng ta bất lực trong nếp sống tu tập, luôn bị ác cảnh mê hoặc. Vì thế, chúng ta nên dốc lòng sám hối và nỗ lực dụng công mới được.

Sau đây, chúng tôi xin nói rõ thêm một điều là trong mộng thấy tạo ra ác nghiệp, nhân vì tâm nghiệp suy yếu nên không chiêu cảm đến quả báo. Những sách có liên quan đến giới luật cũng có nói: “Tuy mộng thấy trộm cắp, tà dâm … gây ra các ác hạnh như thế nhưng không coi là phạm giới, bởi vì mộng là điều không thật có. Hơn nữa, ở trong mộng, chúng ta thấy mình làm xâm hại đến chúng sanh, vốn là điều không có tổn hại thực sự nên không có tội. Tuy chúng ta không cố ý phạm giới và tạo ác, nhưng vì hạt giống ác và tập khí phiền não quá mạnh đã gieo vào thửa ruộng tâm thức của ta. Thế rồi ta bị chúng khống chế, không được an trụ trong chánh định, cho nên mới cảm đến ác mộng. Vì vậy, có câu: “Mộng mị rối loạn lung tung”. Đây là chỉ điềm mộng có liên quan đến việc tạo ác và những tạp sự ở thế tục.

VII. LÀM  SAO ĐỂ BIẾT ĐƯỢC NGƯỜI CHẾT SANH VỀ ĐÂU?

Các bậc Thánh khi đã đoạn trừ được các phiền não lậu hoặc thì sau khi chết sẽ không còn tái sanh nữa. Trừ phi các Ngài có hạnh nguyện muốn thực hành “Bồ tát đạo”, nên có thể nương theo sức bi nguyện mà trở lại thế gian này cốt để hóa độ chúng sanh. Trường hợp này lẽ đương nhiên là được “tự tại trong sanh tử”.

Ngoài ra, có người tu tập theo pháp niệm Phật mà trừ sạch mê lầm, điều phục hết phiền não, lại nương vào nguyện lực của chư Phật và Bồ tát, cộng thêm niệm lực của chính mình mà được vãng sanh về cõi Tịnh của chư Phật và Bồ tát, tiếp nhận sự giáo hóa của các Ngài để thành tựu huệ nghiệp và xa lìa biển khổ sanh tử.

Trừ hai hạng người này ra, còn bao nhiêu người khác thì sau khi chết nhất định sẽ tái sanh. Nếu như nói đến chuyện sanh về đâu thì nhất định họ sẽ không ra khỏi sáu nẻo luân hồi tức “Trời, người, A tu la, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh”. Căn cứ theo độ ấm ở các phần trên thân thể của người sau khi chết thì cũng có thể biết được họ thác sanh vào chốn nào.

Giả như một người sau khi chết, bắt đầu lạnh từ hai chân trở lên, dần dần lạnh đến đỉnh đầu, sau cùng chỉ có đỉnh đầu là phần nóng, còn các chỗ khác đều lạnh cả, theo đây mà ta có thể biết là người này nhất định sẽ thành bậc thánh.

Giả như một người sau khi chết, bắt đầu từ hai chân lạnh lên, lạnh cho đến cặp mắt, cuối cùng chỉ có cặp mắt là nóng, còn các nơi khác đều lạnh thì liền biết người ấy được sanh lên cõi trời.

Giả như một người sau khi chết, từ phía dưới bắt đầu lạnh lên, lạnh cho đến vùng ngực thì dừng lại, sau cùng chỉ có phần ngực là nóng, còn các nơi khác đều lạnh, nhân đây mà có thể biết người ấy tái sanh làm người.

Giả như một người sau khi chết, từ phía trên bắt đầu lạnh xuống, lạnh cho đến ngang thắt lưng thì dừng lại, sau cùng chỉ có lưng là phần nóng, còn các nơi khác thì đều lạnh, nhân đây mà có thể biết người ấy sanh làm loài ngạ quỷ.

Giả như có người sau khi chết, từ trên bắt đầu lạnh xuống, lạnh cho đến vùng đầu gối thì dừng lại, sau cùng chỉ có đầu gối là nóng, còn lại các chỗ khác thì đều lạnh thì liền có thể biết người ấy sanh làm loài súc sanh.

Giả như có người sau khi chết, từ trên bắt đầu lạnh xuống, lạnh cho đến hai chân thì dừng lại, sau cùng chỉ có hai chân là nóng, còn toàn thân người ấy thì đều lạnh, thế mới biết người ấy sẽ đọa vào địa ngục để chịu quả báo khổ đau.

Có một bài tụng sau đây giúp ta dễ nhớ:

Nguyên văn:

Đảnh thánh nhãn sanh thiên

Nhân tâm ngạ quỷ phúc

Bàng sanh tất cái ly

Địa ngục túc để xuất.

Dịch nghĩa:

Đảnh sanh làm thánh, mắt lên trời

Tim người bụng quỷ, thật chẳng dời!

Bàng sanh đầu gối tồn hơi nóng

Địa ngục chân ra khổ đời đời!

Chúng ta phải nên chú ý đến những phương pháp trên và các bạn càng không nên tùy tiện sờ mó vào thân thể của người chết mãi để họ khỏi bị loạn tâm,  rồi sanh lòng oán ghét và thù hằn… Đó chính là điều tối kỵ, nhân vì khi lâm chung mà có dấy lên ý niệm oán ghét và thù hằn thì e rằng họ sẽ bị đọa vào ba đường ác là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.

Phương pháp rất hiệu nghiệm chính là dùng “Mộc luân tướng pháp” trong quyển kinh “Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo” để suy lường nơi sanh về của người sau khi chết. Ngoài ra, cũng có người nhân vì dốc lòng lễ sám và niệm danh hiệu chư Phật, cho nên cảm ứng đến chư Phật và Bồ tát, họ được các ngài báo cho biết nơi người thân của họ đã sanh về sau khi chết.

VIII. GIẾT HẠI LOÀI ĐỘNG VẬT SẼ KHÔNG ĐƯỢC THIỆN CHUNG:

Kinh “Pháp Cú Thí Dụ” chép: “Thuở xưa, Đức Thế Tôn đang thuyết pháp ở tịnh xá Kỳ Hoàn. Lúc bấy giờ, có một vị trưởng giả giàu có, tiền tài của ông nhiều vô số kể, nhưng ông chỉ có một đứa con trai. Đứa con trai này sinh trưởng trong một gia đình giàu sang tột bậc. Đến năm 20 tuổi, cậu ta kết hôn.

Một tuần sau khi hôn lễ, hai vợ chồng dìu nhau đi du ngoạn ở một hoa viên. Phía sau hoa viên, có một gốc đại thụ rất cao lớn, trên cây đang xòe nở những đóa hoa thơm ngát và xinh đẹp vô cùng, đẹp như đôi uyên ương vừa sum họp và thề nguyền mãi mãi sống bên nhau. Người vợ rất thích loài hoa này, nhưng vì không có người hầu đi theo nên chồng cô tự mình leo lên cây, leo mỗi lúc mỗi cao, cuối cùng người chồng đứng trên một cành cây, nhân vì cành cây quá nhỏ nên bị gãy. Anh ta rơi xuống đất, chết ngay tức khắc ! Thật đáng thương cho một mạng người, cả nhà lớn nhỏ đều rất đau lòng, ai nấy khóc thương mãi không thôi !

Đức Thế Tôn quán xét, lấy làm thương xót cho vị trưởng giả, nên Ngài đi đến gia đình ông mà an ủi. Phật dạy: “Muôn pháp đều là vô thường,  có sanh ắt có diệt, cho đến nguyên lý của tội phước…”. Sau đó, Ngài lại nói bài kệ cảnh tỉnh, rằng:

Nguyên văn:

Mạng như hoa quả thục

Thường khủng hội linh lạc

Dĩ sanh giai hữu khổ

Thục năng trí bất tử.

Tùng sơ nhạo ái dục

Khả vọng nhập bào ảnh

Thọ hình mạng như điện

Trú dạ lưu nan chỉ.

Thị thân vi tử vật

Tinh thần vô hình pháp

Túc mạng tử phục sanh

Tội phước bất bại vong.

Thỉ chung phi nhất thế

Thành si ái trường cửu

Tự tùng ái khổ lạc

Thân tử thần bất táng.

Dịch nghĩa:

Mạng người nào khác trái trên cành

Thường sợ rụng rời sớm tinh anh

Đã sống trên đời đều cam khổ

Ai hay còn mãi, khỏi tử sanh?

 

Vì thuở ban sơ mến dục tình

Mới hay trở lại kiếp lai sinh

Thân hình ta được như tia chớp

Sớm tối trôi lăn chốn tử sinh.

Thân là vật, chết có chi mà

Tinh thần không bóng, kiếm đâu ra ?

Làm thân sống chết lênh đênh mãi

Chỉ tội phước gây theo với ta.

Trước sau chẳng phải một đời nay

Căn bệnh ái ân chẳng đổi thay

Tự mình tham ái nên vui khổ

Tứ đại mất rồi, thần chẳng lay!

Trưởng giả sau khi nghe xong bài kệ, tâm ý mở bày quên hết nỗi ưu sầu. Ông bèn quỳ xuống mà bạch Phật rằng: “Đứa con trai của con đời trước đã gây tội nghiệp gì mà lại bị yểu vong như thế? Xin Ngài chỉ dạy cho”.

Phật dạy: “Thuở quá khứ, có một đứa bé đang cầm cây cung dạo chơi, lại có ba người đi cùng bên cạnh. Đứa bé này nhìn thấy trên cây có một con chim, bèn khởi tâm muốn bắn chết nó. Ba người là Ất, Giáp và Bính ở bên cạnh bèn xúi đứa bé rằng: Bắn đi! Nếu mày bắn trúng nó thì mày là người anh hùng. Thế là đứa bé bị lời khen kích động, nên nó liền giương cung bắn chết con chim. Ba người kia ở bên cạnh vỗ tay reo hò khen hay. Mọi người ai nấy đều rất vui mừng, sau đó lại bỏ đi.

Ba người kia nhân vì thấy giết mà còn tùy hỉ xúi giục, cho nên đời đời thường chịu nỗi thống khổ vì mất con. Trong đó, Giáp vì đời quá khứ có gieo trồng phước đức tương đối nhiều, cho nên được sanh lên cõi trời; còn Ất sanh làm Long Vương ở dưới biển; Bính thì thác sanh trong cõi người và cũng chính là ông đấy ! Riêng đứa bé bắn chết con chim thì hai đời trước làm đứa bé sinh ở cõi trời, cũng nhân bị té từ trên cây mà chết, sau đầu thai làm Long Vương ở dưới biển. Khi nó vừa sinh ra thì bị kim xí điểu bắt ăn thịt, mãi cho đến đời nay mới đầu thai làm con ông, nhưng cũng chỉ sống đến 20 tuổi. Nhân vì ông ở đời quá khứ, vui mừng khi thấy người sát sanh, cho nên đời nay mắc quả báo đau khổ vì mất con. Đứa con của ông nhân vì đời quá khứ, đã từng giết hại loài động vật, cho nên đời nay phải bị quả báo chết yểu. Thật là nhân quả báo ứng như bóng theo hình, không sai sót mảy may vậy!”.

Đức Phật lại nói bài kệ để chỉ bày cho vị trưởng giả:

Nguyên văn:

Thức thần tạo tam giới

Thiện bất thiện tam xứ

Ấm hành nhi mặc chí

Sở sanh như hưởng ứng.

 

Sắc dục bất sắc hữu

Nhất thiết nhân túc hành

Như chủng tùy bổn duyên

Tự nhiên báo như ảnh.

Dịch nghĩa :

Ba cõi ta đây thức tạo nên

Thiện ác vô thiện ấy ba tên

Ấm hành cả thảy mặc nhiên đến

Chịu kiếp lai sanh như tiếng rền.

Sắc dục vô sắc ấy là ba

Tất cả đều do nhân trước mà

Lại như hạt giống theo duyên lớn

Quả báo tự nhiên như bóng ta.

Sau khi Đức Thế Tôn nói xong bài kệ, cả nhà trưởng giả đều rất hoan hỉ và liền chứng được thánh quả.

IX. THÍ XẢ ÁO CƠM, ĐẾN KHI LÂM NGUY KHỎI CHẾT:

Tả truyện chép: “Vào thời Xuân Thu, nước Tấn có ông Triệu Tuyên Tử cày ruộng ở Thủ Sơn, nhìn thấy ở dưới gốc cây có một người bị đói đã ba ngày ba đêm. Thế là ông bèn mời người ấy ăn cơm. Ăn xong một nửa, người ấy không ăn nữa.

Triệu Tuyên Tử hỏi nguyên nhân, người ấy nói: “Nửa phần còn lại, tôi để dành đem về cho mẹ tôi ăn”.

Triệu Tuyên Tử nghe xong rất cảm động và lại gởi thêm rất nhiều thực vật tươi cho người ấy đem về dâng lên mẹ già.

Bẳng đi một thời gian, đoạn Linh Công muốn giết chết Triệu Tuyên Tử. Ngay trong lúc Triệu Tuyên Tử sắp bị đâm thì chợt có một dũng sĩ xông vào trở giáo để cứu ông ra.

Triệu Tuyên Tử hỏi: Vì sao lại cứu mạng như thế?.

Chàng dũng sĩ đáp: “Tôi chính là người thuở trước sắp bị chết đói ở dưới gốc cây này, nhưng may nhờ phần cơm của ông mà được sống sót”. Tử định hỏi danh tánh, nhưng người ấy không đáp mà xin cáo lui”.

Do đây mà biết được bố thí áo cơm và cứu giúp người trong cảnh bần hàn khốn khó thì sẽ thoát khỏi những cơn nguy nan, lại còn được sống lâu và bảo hộ được thiện chung.

Kinh “Phó Pháp Tạng” chép: “Trong hàng đệ tử của Phật, có một người tên là Câu Bạt La. Đời quá khứ, ông vốn là một kẻ nghèo hèn, nhân vì nhìn thấy một vị sa môn đang bị bệnh, nên ông bèn phát tâm chí thành dâng cho vị sa môn một hạt trái cây để trị bệnh. Vậy mà kể từ đó, trong 91 tiểu kiếp, ông thường được sanh lên cõi trời, hưởng thọ quả vui, không bị chết yểu, lại cũng không có bệnh đau. Ở thời Đức Phật, sau khi sanh ra, ông gặp rất nhiều tai nạn và nguy hiểm, nhưng ông đều an nhiên vượt qua, lại sống đến 160 tuổi và còn được thiện chung”.

X. CHUYÊN TÂM NIỆM PHẬT NHẤT ĐỊNH SẼ ĐƯỢC THIỆN CHUNG:

Niệm Phật được thiện chung có rất nhiều, trong “Tịnh Độ Thánh Hiền Lục” và “Niệm Phật Cảm Ứng Văn Ký” đều ghi tương đối rõ ràng.

Theo như tôi được biết, có rất nhiều trường hợp khi lâm chung, nhân vì nhờ người khác giúp đỡ niệm Phật, chẳng những được thiện chung mà còn vãng sanh về cõi nước của chư Phật.

Nếu chúng ta tự tu chứng đến mức “tự tại trong sanh tử ” thì xin miễn bàn. Bằng không, chúng ta phải nhờ vào sự trợ niệm lúc lâm chung thì mới được vãng sanh. Nhân đây mà “Liên Xã”, “Niệm Phật đoàn”, “Lâm chung trợ niệm phục vụ đoàn”… được thành lập, là việc rất trọng yếu. Lại nữa, nói đến việc trợ niệm thì không được chậm trễ dù chỉ là một sát na.

Niệm Phật không những tiêu trừ được nghiệp chướng, mà lại càng tăng thêm phước huệ, thậm chí còn có cả công hiệu “cải tử hoàn sanh”. Ví như một người chết đã 12 giờ đồng hồ, vẻ mặt của người ấy từ trước đến giờ rất xấu xí và ít ai ưa. Nhưng sau nhờ có nhiều người giúp đỡ, họ niệm danh hiệu Phật dù chỉ được vài giờ đồng hồ, vậy mà đến ngày thứ hai thì thây chết trở nên mềm mại, dáng vẻ rất đẹp, thậm chí trên mặt có vẻ như đang mỉm cười. Việc này thật không thể nghĩ bàn! Chết đã 12 giờ mới trợ niệm mà còn có hiệu quả như thế thì huống hồ lúc lâm chung, liền vì họ mà trợ niệm. Thế thì hiệu quả ấy đương nhiên là càng lớn rồi!

Sau đây, chúng tôi xin dẫn câu chuyện ở trong một đoạn kinh để chứng minh hiệu lực của việc niệm Phật lúc lâm chung:

Kinh “Tạp Thí Dụ” chép: “Thuở xưa, có một người xuất gia học đạo, chứng được thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông, thần túc thông và đoạn trừ tất cả phiền não lậu hoặc. Sau khi thành đạo, đối với những chúng sanh có ân thì Ngài đều vận thần thông và trí tuệ để cứu độ họ. Nhưng chỉ có bà mẹ của Ngài đang ở trong địa ngục thì cứu vớt chưa được, nhân đây mà Ngài tìm đủ mọi phương pháp để cứu độ mẫu thân ra khỏi biển khổ.

Đang lúc nhập định quán xét, Ngài thấy có một người đến giết hại phụ vương. Sau khi soán ngôi xong, kẻ ấy tự lên làm vua, nhưng ở ngai vàng chưa tới bảy ngày thì bèn chết đi. Sau khi chết, nơi người đó chịu tội thì tương đồng với mẫu thân của Ngài.

Tối hôm ấy, vị La Hán này liền vận thần thông để vào cung vua. Vua thấy trên bức tường hiện ra nửa thân người, ông vô cùng kinh sợ, định rút gươm chém, nhưng chiếc gươm liền rơi xuống đất, còn vị La Hán kia vẫn đứng lặng yên bất động. Quốc vương biết Ngài chính là vị cao tăng đắc đạo nên liền dập đầu tạ tội.

La Hán hỏi quốc vương rằng: “Ông là người giết hại phụ vương của tôi và soán ngôi để được làm vua, phải không?”.

Quốc vương đáp: “Thật không sai!”.

La Hán lại nói: “Theo tôi biết, mạng sống của ông chỉ còn được bảy ngày nữa thôi. Nhưng sau khi chết, ông sẽ bị đọa vào địa ngục, cho nên tôi đến đây để báo cho ông biết”.

Quốc vương nghe xong, liền buồn khổ và ai cầu La Hán cứu mạng. La Hán nói: “Thời gian chỉ còn bảy ngày nữa thôi, giả như ông muốn làm việc đại công đức thì tôi e rằng sẽ không còn kịp nữa rồi. Chi bằng trong bảy ngày này, ông chuyên lòng quán tưởng niệm Phật không gián đoạn thì liền được qua khỏi cơn đại nạn này”.

Quốc vương nghe lời La Hán nói xong, bèn nhất tâm dốc hết sức lực để chuyên chú vào câu niệm Phật, suốt bảy ngày đều không bê trễ. Quả nhiên, sau khi chết, thần thức của ông ta rất sáng suốt, lại biết được cửa ngục mình sắp sửa đọa lạc. Vì vậy, ông lại càng khẩn thiết niệm Phật liên tục. Nói ra thì cũng hơi lạ, vừa niệm một tiếng “Nam mô Phật” thì hỏa ngục bỗng nhiên biến thành mát mẻ. Thế nên, nơi có các hình phạt do đâu mà còn? Chỗ chúng sanh chịu khổ ở địa ngục há chẳng thoát ly? Vị La Hán bèn nói pháp cho họ nghe. Mẫu thân của La Hán, từ quốc vương cho đến các chúng sanh ở địa ngục đều được thoát khỏi biển khổ.

XI. LÚC LÂM CHUNG PHẢI MAU PHÁT TÂM NIỆM LÀNH, ĐỪNG NÊN  KHÓC  LÓC:

Nghĩ lại thì cũng tội nghiệp cho những người chết ở tại bệnh viện, nhân vì lúc lâm chung, không có ai trợ niệm danh hiệu Phật cho họ. Vả lại, trong lúc đau khổ quằn quại vì bệnh tật, khiến cho thân họ chẳng được an trụ và tâm không thể nhiếp giữ chánh niệm, cho nên rất có thể sau khi mất đi, họ sẽ thác sanh vào cõi bất thiện. Lại đáng sợ hơn là có những y viện lớn đã thiết lập một nhà xác. Khi người bệnh vừa tắt thở (vì không có hay được sự đồng ý của người thân), họ liền bị đem vào kho ướp lạnh để tránh khỏi nạn thối rữa. Vấn đề quan trọng hơn hết mà ta phải chú ý là “Khi người vừa tắt thở, không hẳn là trạng thái đã tử vong”. Trong kinh, Đức Phật cũng từng dạy:“ Hơi ấm trong thân thể hoàn toàn tiêu hết thì thần thức mới lìa khỏi xác, lúc đó thì mới gọi là chết” (xem quyển 38 “Đại Tỳ Bà Sa Luận”, quyển 44 “Du Già Sư Địa Luận”, quyển 2 “Pháp Trí Luận” và quyển 5 “Pháp Uẩn Túc Luận”).

Tại đường Khải Quốc, khu Tam Dân, thành phố Cao Hùng, song thân của bà Trâu do bị tai nạn giao thông mà được đưa tới bệnh viện. Cả hai người vẫn chưa chết, vậy mà họ bèn đưa vào kho ướp lạnh trong nhà xác.

Sau hai ông bà về báo mộng cho con gái của mình rằng: “Cha mẹ chết thật oan uổng, lẽ ra vẫn còn được sống, nhưng vì bị đưa vào kho lạnh nên đành phải tử vong”.

Kể từ đó, bà Trâu buồn bã liên miên, phát nguyện chuyên làm việc phóng sanh, tu phước, thỉnh các cao tăng đọc kinh để hồi hướng cho các oán khí và oan tình của cha mẹ bà được tiêu tan.

Ngoài ra, còn có một việc rất trọng yếu là khi nhìn thấy người thân của mình qua đời, phải nên mau vì họ mà niệm Phật hoặc thuyết pháp, chứ không nên đứng trước mặt họ mà khóc than kể lể. Nhân vì chúng ta đứng trước mặt họ mà khóc thì làm kích động phát tâm tham ái và gây nên sự quyến luyến, rất có ảnh hưởng đến cảnh giới đầu thai của họ. Khóc than trong lúc lâm chung chẳng những không có mảy may nào ích lợi cho người chết mà lại còn làm hại thêm cho họ. Thế nên, các bậc tổ sư từ xưa tới nay đều dạy ta rằng: “Không nên ở trước mặt người chết mà khóc lóc. Nếu ai thật muốn khóc than thì nên đến nơi thật xa để khóc đi!”. Càng không nên ở cận kề bên người chết mà gào khóc, kể lể để khỏi làm cho tâm họ bị rối loạn, lại tăng thêm tình cảm bám víu của họ.

Khi gặp người lâm chung, không luận là người xa lạ hay bạn bè thân thích, mình đều nên vì họ mà lớn tiếng niệm danh hiệu Phật, lại khuyên họ nên dấy khởi tâm niệm lành hoặc khen ngợi những việc làm lành của họ khi còn sống để mở bày lòng tin của họ. Bạn giúp họ niệm Phật thì tâm họ tự nhiên cũng nhân vì niệm Phật mà được siêu sanh, chẳng những không tham luyến vật dục ở thế tục mà còn tiêu mất tâm hoảng hốt lúc tử vong. Đây há không phải là “đưa một mà được nhiều” sao?

Khi gặp bạn bè thân thích sắp mất, không nên vội vã di chuyển thi thể của họ hay vì họ mà thay y phục và tắm rửa để tránh khỏi việc làm nhiễu loạn thần thức của người chết, khiến họ sanh ra nỗi đau khổ và phiền muộn trong lòng, khó mà được siêu sanh và thoát hóa.

Niệm danh hiệu của Đức Phật sẽ được công đức không thể nghĩ bàn. Vì nương nhờ vào nguyện lực của chư Phật, Bồ tát và nhờ công đức niệm Phật của đại chúng nên khiến cho trong tâm của người sắp qua đời không hoang mang sợ hãi và ngăn ngại bởi nghiệp lực. Hể trong tâm tràn đầy niệm lành và dốc lòng thành thật niệm Phật thì hẳn nhiên sẽ được đầu thai vào cõi lành hoặc sanh về cõi nước của chư Phật và Bồ tát.

Biện pháp tốt nhất trong lúc lâm chung chính là nên sắp đặt bạn bè thân thích hoặc Ban hộ niệm để mọi người thay phiên vì người mất mà niệm Phật suốt bảy ngày, trong 24 giờ đồng hồ đều có người túc trực niệm Phật. Ví như chia từng ban để niệm Phật, mỗi ban do hai người niệm, mỗi lần niệm từ một đến hai tiếng đồng hồ, sau lại đổi hai người khác và cứ liên tục vì người mất mà niệm Phật. Như thế, người chết nhất định sẽ sanh về cõi nước của chư Phật.

Khi gặp thân hữu lâm chung, chúng ta nên nghĩ đến điều tốt lành. Chỉ cần họ được sanh lên trời hoặc vãng sanh về Tịnh độ của chư Phật và Bồ tát, thế thì chúng ta nào có buồn thương!

Lại càng không nên vì người chết mà đốt vàng mã, nhân vì tiền vàng mã chỉ được sử dụng khi người chết bị đọa làm loài ngạ quỷ; còn khi vãng sanh làm loài người, trời, súc sanh và địa ngục thì đều không có phép dùng tiền giấy. Cho nên không cần phải đốt giấy tiền vàng mả, chi bằng ta đem số tiền mua vàng mả để đốt ấy làm chi phí cho việc ấn tống kinh điển giúp cho người có tri kiến về tội phước, công đức ấy càng lớn hơn. Nhưng tất cả đều không bằng hành thiện niệm Phật để hồi hướng cho người chết. Đây là việc làm có lợi ích thực tế nhất.

Kinh “Địa Tạng” chép: “Vì người thân mà hành thiện, tu tạo công đức; người chết chỉ hưởng được một phần, sáu phần còn lại do người còn sống hưởng thụ” (phẩm “Kẻ Còn Người Mất Đều Được Lợi ”). “Nếu như đem công đức bố thí hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh thì liền được sự khoái lạc mầu nhiệm và được phước báo cả trăm ngàn đời, còn chỉ hồi hướng cho thân bằng quyến thuộc của mình hoặc lợi ích cho tự thân thì chỉ được hưởng phước báo trong ba đời mà thôi” (xem  phẩm “So Sánh Nhân Duyên Công Đức Của Sự Bố Thí”).      

   

Những kiến thức chính xác có liên quan đến việc lâm chung, xin xem trong kinh “Địa Tạng”, “Sức Chung Tân Lương”,  “Nhân Sanh Tối Đại Đích Nhất Kiện Sự” và “Âm Cứu Độ Mật Pháp”.

XII. TỤNG KINH SIÊU ĐỘ VONG HỒN:

Tụng kinh có công đức không những được tiêu trừ nghiệp chướng, mở mang trí huệ, giải trừ oan kết, lại cũng siêu độ được vong hồn và khiến cho những chúng sanh không được thiện chung nhờ vào công đức ấy mà đầu thai vào cõi lành. Sau đây, chúng tôi xin nêu ra một câu chuyện về “tụng kinh siêu độ vong hồn”.

Theo quyển “Cảm Ứng Thiên Vựng Biên” chép: “Vào triều nhà Minh, khi bình định được quân giặc Oa (tức Nhật Bổn), có một vị tướng lãnh rất nổi tiếng tên là Thích Kế Quang, mỗi ngày đều đọc tụng kinh Kim Cang.

Hôm nọ, ông nằm mộng thấy một hồn quỷ đến thỉnh ông giúp nó tụng một xấp kinh Kim Cang để được siêu sanh. Nhân vì tướng Thích Kế Quang là một người đệ tử của Phật kiền thành, lại thường hay giúp người, cho nên ông đáp ứng lời mời của quỷ ngay.

Thế nhưng, đang trong lúc Thích Kế Quang tụng kinh Kim Cang, có đứa nô tì đem dâng cho ông một tách trà. Thích Kế Quang liền đưa tay từ chối và nói rằng: “Không dùng!”.

Thật chẳng ngờ buổi tối hôm ấy, hồn quỷ kia lại đến. Nó mách cho ông biết rằng xấp kinh hôm nay ông tụng rất hay, nhưng đáng tiếc là có thêm hai chữ “không dùng”, vì vậy mà chưa phát huy hết hiệu lực. “Thôi thì mai này, cảm phiền ông tụng lại cho tôi một xấp kinh khác, được không?”. Nói xong quỷ liền biến mất.

Sáng hôm sau, Thích Kế Quang sắp đặt dặn dò kỹ lưỡng người đầy tớ và chuyện quan trọng hơn hết là không được quấy rối trong khi ông tụng kinh. Thế là ông tập trung dốc hết tinh thần để đọc cho xong một xấp kinh, ngay sau đó hồn quỷ liền được siêu sanh. Nó lại hiện ra trong mộng để cảm tạ Thích Kế Quang”.

Phàm khi gặp thân hữu mình có bệnh trong khi thỉnh các bậc cao tăng – đại đức đến nhà để đọc kinh thì tốt nhất là mọi người trong gia đình phải cầm kinh đọc tụng và lễ bái theo các vị ấy thì công đức và năng lực lại càng nhiều. Nếu như chỉ nghe pháp sư tụng kinh mà tự mình không xem kinh thì e rằng nhân vì không hiểu kinh văn của pháp sư tụng, rồi ngớ người ra mà suy nghĩ lung tung. Lúc không xem kinh và bái sám theo pháp sư thì cũng không biết thánh hiệu của chư Phật và Bồ tát mà các ngài lễ bái là gì ! Như thế, hiệu lực siêu tiến vong hồn đương nhiên suy giảm rất nhiều.

Nếu vì cớ bi tâm thanh tịnh và niệm lực khẩn thiết mà tất cả mọi người trong gia đình dành thời gian chia phiên nhau tụng kinh trong suốt 49 ngày không gián đoạn để siêu tiến cho người chết thì được công đức rất lớn.

XIII. SÁT SANH TỔN NGƯỜI HẠI MÌNH :

Quyển “Trúc Song Tùy Bút” của đại sư Liên Trì đời nhà Minh chép: “Tại huyện Chiết Giang, tỉnh Tiền Đường, có một người họ Kim. Hàng ngày, ông nghiêm trì trai giới tương đối kiền thành. Sau khi chết, thần hồn của ông nhập vào thân của một đứa con, nói rằng: “Vì việc làm lành của cha không được nhiều nên cha chẳng được sanh về cõi nước của chư Phật và Bồ tát. Tuy không được vãng sanh, nhưng ở chốn âm phủ, cha được tới lui rất tự tại và cũng tương đối khoái lạc, không đến nỗi khổ sở”.

Một hôm, thần hồn của ông lại nhập vào đứa con ấy và quở trách vợ mình rằng: “Má mày tại sao phải giết gà để cúng tế tôi? Vì bà sát sanh cho nên tôi đi đến đâu thì sau lưng tôi đều có các quan ở âm phủ đi theo để trông chừng và quản lý rất chặt chẽ. Bây giờ, tôi không được tự do như trước nữa!”.

Chợt có người phụ nữ đang mang thai đến hỏi chuyện tốt xấu của tự thân thì ông liền đáp: “Cô sau này sẽ hạ sanh đứa con trai, mẹ con đều bình yên và khỏe mạnh”.

 Một thời gian sau, quả nhiên người phụ nữ sanh ra một đứa con trai, nhưng đến khi sanh đứa con thứ hai thì cả hai mẹ con đều chết. Sau này, người ta mới thấy lời ông nói quả thật linh nghiệm.

Trong bộ “Đại Tạng Nhật Lãm” chép: “Đức Phật cùng với tôn giả A Nan đang đi bên bờ sông thì trông thấy 500 ngạ quỷ vừa đi vừa hát. A Nan hỏi Phật, Đức Phật trả lời: “Con cháu của 500 ngạ quỷ này đang thay thế chúng tu tạo phước đức. Vì sắp được giải thoát khỏi biển khổ, nên chúng nhảy múa và ca hát để bày tỏ niềm vui”.

Lát sau, các Ngài lại gặp mấy trăm ngạ quỷ có dáng vẻ rất thương tâm đi qua. A Nan hỏi Phật, Đức Phật bảo rằng: “Con cháu của những ngạ quỷ này đang vì chúng mà sát sanh cúng tế, chẳng chịu làm phước, cho nên sau thân của chúng có lửa dữ đang bức bách, nhân đây mà gào khóc thê thảm”.

Người đời vì không rõ được đạo lý nên cho rằng khi tế tự, nếu chuẩn bị rượu thịt càng nhiều thì sẽ làm rạng danh tổ tiên. Nhưng họ nào biết rằng làm như vậy thì chẳng những không có ích lợi, lại càng làm thương hại đến tổ tiên của họ nữa”.

(Xem “Âm Chất Văn Quảng Nghĩa Tiết Lục”, quyển hạ)

Ngày nay, đa phần người tổ chức việc tang ma không chỉ sát sanh để đãi khách mà lại còn giở trò rượu chè be bét. Xương gà, vịt, cá … ném loạn xạ dưới đất, thật là giảm tổn phước đức và tăng thêm ác nghiệp. Vậy làm thế nào để sắp đặt việc tang ma cho hợp lý?

Trong kinh “Địa Tạng”, Đức Phật dạy rằng: “Khi tổ chức đám tang, không nên sát sanh vì sát sanh cũng giống như gởi thêm tội lỗi và nỗi thống khổ cho người tội gánh vác”.

Hơn nữa, tất cả những trái cây và cơm nước, trước phải cúng dường mười phương chư Phật, Bồ tát và thánh hiền, rồi sau mới được ăn. Cơm gạo và thức ăn không được làm đổ tháo hay ném xuống đất vì để biểu thị sự tiếc phước và không làm cho người khác vô ý dẫm đạp chết kiến và côn trùng.

 

3.1.Ngũ Phước Lâm Môn
213126
Total Visit : 111438