Chủ nhật, ngày 11 tháng 4 năm 2021
"Sống không giận, không hờn, không oán trách. Sống mỉm cười với thử thách chông gai. Sống vươn lên theo kịp ánh ban mai. Sống an hòa với mọi người chung sống"

Tam đàn Truyền giới Chánh phạm – Quyển 3

Tam đàn Truyền giới Chánh phạm – Quyển 3 Sách:

TAM ĐÀN TRUYỀN GIỚI CHÁNH PHẠM

QUYỂN 3.

Núi Bảo Hoa Kim Lăng ty luật sa môn Độc Thể soạn.

Tam đàn khi tiến hành thọ giới Bồ tát trước hết cử hành nghi thỉnh giới sám hối.

1. KHẢI BẠCH HAI THẦY:

Xét Bồ Tát Giới Yết Ma kinh chép: “Nếu các Bồ tát lúc muốn thọ giới Bồ tát, trước nên nói Pháp Tạng Bồ tát, Ma Đát Rị Ca Bồ Tát học xứ, và phạm xứ tướng”. Khiến cho nghe nhận, dùng trí tuệ quan sát, tự ý mình ham thích mới được, suy nghĩ quyết tâm chọn thọ giới Bồ tát, chứ chẳng phải vì người khác khuyên, chẳng phải thọ để hơn người khác. Nên biết đó mới gọi là Bồ tát có lòng tin kiên cố, như thế  mới có thể kham thọ tịnh giới giới Bồ tát. Căn cứ như trong kinh đã nói rõ, cho nên biết người muốn thọ giới Bồ tát trước hết nên thỉnh giới khai thị. Kế đến thì thẫm xét sám hối, hỏi nạn tất cả như pháp mà trao nhận. Nếu chẳng nương nhờ sự dẫn dắt, thì lời phát thỉnh không do đâu mà có. Thế nên trước phải thông bạch để giúp nhọc cho hai thầy, sau đó mới khải thỉnh Hòa thượng.

Pháp thỉnh giới khai đạo, phải thực hiện trước lúc thọ giới hai, ba ngày. Sau giờ ngọ khiến tịnh nhơn rưới quét pháp đường, ở giữa khiết cao tòa, nếu không có tịnh nhơn thì tân tỳ kheo cũng được. Đến thời đánh kiền chùy tập chúng, những người vân tập ở trong đây, chẳng phải chỉ hạn cuộc ở Tỳ Kheo, hễ Tỳ Kheo Ni, Thức Xoa Ma Na, Sa Di, Sa Di Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, ai muốn thọ giới Bồ tát, đều nên cùng vận tập. Nếu chúng nhiều, nên đem mười tỳ kheo đến thỉnh. Đến rồi lạy một  lạy, đứng dậy. Người dẫn đầu chắp tay bạch rằng:

Chúng con tỳ kheo mỗ giáp… nay muốn tiến cầu đại giới Bồ tát ở trong các nghi tắc chẳng am hiểu khuôn phép, lại khẩn cầu chư vị giới sư, chỉ bày cho chúng con.

Dẫn lễ nói:

Tỳ kheo các vị (nếu có sáu chúng khác ở trong đây thì tùy theo chúng gì mà thêm vào), đã phát tăng thượng tâm, muốn thọ tăng thượng giới, lợi mình, lợi người. Pháp môn hưng thạnh, công đức khó nghĩ bàn. Tôi  trước hết hướng dẫn các vị  thông bạch hai thầy. Nếu ai cầu xin thọ giới thì nên cùng nhau đến phương trượng.

Đáp rồi cùng lạy một lạy, đứng dậy phân ra hai bên. Lúc ấy hai sư dẫn lễ mỗi người hướng dẫn hai tỳ kheo, chia ra để thỉnh hai thầy. Khi thỉnh đến pháp đường rồi, dẫn lễ bảo đại chúng làm lễ ba lạy như thường lệ, quì gối chắp tay, hai vị dẫn lễ cùng hướng đến hai thầy lạy một lạy rồi đứng dậy chắp tay bạch thay đại chúng rằng:

Các Tỳ kheo mỗ giáp… (nếu có sáu chúng khác ở trong đây thì tùy theo chúng gì mà thêm vào), nay muốn xin viên mãn đại giới Bồ tát, cho nên trước thông bạch hai thầy A xà Lê, cúi mong khơi mở, chớ tiếc tâm rộng lớn lợi vật, tác thành thượng chí cho hàng tân học, vui khen pháp chỉ, nên cùng nhau đến phương trượng, khải thỉnh hòa thượng quang lâm giới đường, cúi mong khai thị, khiến cho đại chúng nghe hiểu thọ trì không mờ con đường tu chân chánh. Cúi xin từ mẫn.

Bạch rồi bảo đại chúng lạy một lạy.

Xà lê sư nói:

Tỳ kheo (nếu có sáu chúng khác ở trong đây thì tùy theo chúng gì mà thêm vào), các vị nay ý muốn khải thỉnh hòa thượng, cầu viên mãn Bồ tát diệu thiện giới pháp, thật là chơn đệ tử của Phật, gọi là bậc đại đạo tâm. Lát nữa hòa thượng nếu từ bi hứa khả đến giới đường, lúc ngài khai đạo, các vị đều nên nghe kỹ tư duy, như thế mới có thể thọ lãnh giới pháp nầy. Bởi do Bồ tát thệ nguyện sâu rộng, vô lượng hạnh môn, chẳng giống như những điều tu trì của tỳ kheo. Giả như có mảy may nào sợ hãi, căn cơ khí lượng  kém cõi, đại giới khó mà viên mãn.

Cho nên nói, giả sử: “Vòng sắt niền trên đảnh đầu, trọn không thối thất tâm Bồ đề”. Hạnh nguyện kiên cố, như thế mới gọi là thọ trì Bồ tát giới. Cho nên hai thầy chúng tôi chỉ bày cho các vị, các vị  mỗi người nên cung cẩn cùng nhau đến phương trượng, nghinh thỉnh Hòa thượng.

Dẫn lễ bảo chúng lạy ba lạy, đứng dậy chia ra hai bên phải trái, người dẫn đầu theo hai sư đến phương trượng, còn bao nhiêu vẫn đứng yên.

2. THỈNH GIỚI SƯ KHAI ĐẠO:

Lúc thỉnh Hòa thượng, nên khiến chín người cầm hương đi trước, kế đến dẫn lễ đánh khánh, sau đó là hai thầy. Ngoài ra đại chúng đi sau, đến phương trượng lễ nghi như thường lệ, hòa thượng đến giới đường, thăng tòa, trước hết hai thầy lạy xong trở về chỗ, dẫn lễ hướng đến trước mở tọa cụ, lạy ba lạy, quì gối, chắp tay bạch rằng:

Ngưỡng bạch Hòa thượng đại từ nhẫn, những tỳ kheo mỗ giáp… nếu có chúng khác thì nói thêm vào. Nay muốn cầu tịnh giới viên mãn Bồ tát, cho nên cung kính trước tòa, đảnh lễ khải bạch, xin mở pháp môn cam lộ giải thoát, truyền thọ bảo giới kim cang quang minh, không xả từ bi, dũ lòng khai đạo

Bạch rồi lạy ba lạy, thâu tọa cụ, trở về chỗ, bảo rằng:

Dâng hương, trở về chỗ, các tỳ kheo… (nếu có chúng khác thì nói thêm vào) cùng xếp hàng, trải tọa cụ, nghe tiếng khánh lạy ba lạy, vén y, lạy rồi quì gối chắp tay.

Xà lê sư bạch rằng:

Các tỳ kheo có lời nói xin giới, vị đầu nhóm thay đại chúng chí thành tác bạch.

Chúng con là tỳ kheo mỗ giáp… từ lâu đã bỏ hình vóc thế gian, lìa trần tục thường dốc lòng tiến đạo vô môn, may gặp đại hòa thượng, giới đức cao như núi, Tỳ ni sâu như biển. Nay được đăng đàn thọ cụ, ban đầu dự vào hàng Tăng, muốn dứt bỏ lo nghĩ, dốc lòng thành kính, lại thọ thêm đại giới. Cho nên nay đảnh lễ trước tòa, chí thành cung thỉnh cúi xin một niệm giám thành dũ lòng thương xót chúng sanh, đều ban tịnh giới diệu thiện Bồ tát. Khiến cho chúng con tu học đại thừa, khế ngộ tâm địa, lấy công bốn hoằng nguyện giáo hóa dẫn dắt. Vì để đền đáp ân đức ban cho giới pháp, nên dốc lòng chí thành cầu đảo không thôi.

Bạch rồi dẫn lễ bảo đại chúng đảnh lễ một lạy, chắp tay quì xuống dốc lòng lắng nghe.

Hòa thượng vỗ thủ xích nói:

Các tỳ kheo … (nếu có chúng khác thì nói thêm vào) các vị nay khẩn thiết chí thành, cầu xin giới pháp Bồ tát diệu thiện, vậy trước phải dùng ba loại quyết định: Tin sâu, bền chắc, phát tâm vô thượng bồ đề mà cầu. Nếu lòng tin không quyết định, thì không thể đoạn trừ lưới nghi, tâm không tin sâu kiên cố thì không thể dõng mãnh siêng tu. Cho nên tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề  an trụ nơi đại thừa như núi như biển, không hề dao động, tất cả đều do đầy đủ một lòng tin này, sức tin ấy  vững chắc mãi.

Ba điều đó là gì?

1. Quyết định tin sâu tất cả chúng sanh đều có đủ đức tướng trí huệ của Như lai, nhân vì vọng tưởng chấp trước mà không chứng được. Cho nên nay siêng tu hạnh thù thắng, thề thành đạo chánh giác, nguyện độ chúng sanh đều lên quả Phật. Cho nên kinh Phạm Võng chép:

“Các ngươi là Phật sẽ thành, ta là Phật đã thành, thường khởi lòng tin như thế thì giới phẩm đã đầy đủ”.

2. Quyết định tin sâu vào Ba la đề mộc xoa giới, là cái nhân duyên căn bổn  để tu chứng quả giác ngộ Niết bàn. Nếu không có giới để tu nhân, thì giống như nấu cát mà muốn thành cơm, cho dù trải qua số kiếp như vi trần rốt cuộc cũng không thể thành.

 Cho nên kinh Hoa Nghiêm có chép: “Giới là gốc vô thượng Bồ đề, nên phải giữ gìn tịnh giới đầy đủ. Nếu có ai bền lòng gìn giữ tịnh giới, thì được Như Lai tán thán”.

Kinh Niết Bàn chép: “Muốn thấy được Phật tánh, chứng đại Niết bàn, cần phải thâm tâm tu trì tịnh giới”.

3. Quyết định tin sâu tất cả ba thân: Pháp, báo, hóa, vốn thanh tịnh quang minh, vô biên tướng hảo đều nương vào sự trì giới mà được trang nghiêm thành tựu.

 Vì thế kinh Tát Già Ni Kiền Tử chép: “Thân công đức của Như Lai, lấy giới làm gốc”.

Cho nên biết trên muốn cầu quả Phật đầy đủ nhị nghiêm, dưới hóa chúng sanh đầy đủ muôn hạnh. Có giới thì tu chứng không hư dối, không có giới thì luống uổng có ích gì. Các vị nếu đủ ba loại tín lực này, thì mới có thể cảm ứng cầu: Ta Bà giáo chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật làm hòa thượng bổn sư đắc giới, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát làm Yết Ma A Xà Lê, nhất sanh bổ xứ Di Lặc Bồ Tát làm  Giáo Thọ A Xà Lê, mười phương hiện tiền tất cả chư Phật là Tôn Chứng Sư, mười phương tất cả Bồ tát là bạn đồng học. Tôi  tuy nhận lời các vị  thỉnh cầu thăng tòa nhưng chỉ là vị pháp sư giáo giới cho các vị thôi. Còn gọi là bỉnh giới hòa thượng, nghĩa là phụng trì tuyên dương lời  Phật dạy, giáo giới cho hàng hậu học. Ngày mai vào trong giới đàn lúc đang thọ giới,  các vị mỗi người đều phải chuyên chú vào một cảnh, dứt hết các duyên thân này tuy ở trước giới sư nhưng tâm phải quán tưởng hải hội chư Phật. Phải biết tịnh giới Bồ tát, chẳng phải người có lòng tin cạn cợt, tâm tán loạn mà được nạp thọ.

Cho nên kinh chép: “Ba lần bạch thọ giới yết ma xong, từ đây không còn ngăn cách, khắp ở mười phương vô biên không ngằn mé trong các thế giới, hiện ở trước chư Phật, chư Bồ Tát, pháp tướng hiện ra, do đây mà biểu thị, như thế Bồ tát đã thọ được tịnh giới của Bồ tát. Bấy giờ chư Phật Bồ tát thấy là pháp tướng của Bồ tát, biết mỗ…thế giới, mỗ…danh Bồ tát, mỗ… chư Bồ Tát, tịnh giới Bồ tát đã thọ, tất cả đều ở đây xem người thọ giới Bồ tát như con như em mà sanh lòng thương xót, nhớ nghĩ thương xót. Do lòng thương xót nầy mà chư Phật Bồ tát khiến cho pháp lành mong cầu ít có của Bồ tát lại càng tăng trưởng, không có lui giảm. Như tịnh giới mà Bồ tát đã thọ, ở chỗ khác thọ tịnh giới tối thắng vô thượng, vô lượng vô biên đại công đức tạng cũng tăng theo. Chỗ phát khởi thứ nhất tối thượng thiện tâm ý lạc. Khắp hay diệt trừ hết những ác hạnh của chúng hữu tình, tất cả biệt giải thoát luật nghi kế phần, toán phần, dụ phần, cho đến Ô Ba Ni Sát Đàm phần, cũng không bằng một, nhiếp thọ tất cả đại công đức. Thọ giới này rồi, tuy lại chuyển thân khắp mười phương cõi, dù sanh ở bất kỳ nơi nào cũng không bỏ tịnh giới luật nghi của Bồ tát”.

Nếu Bồ tát không xả bỏ đại nguyện vô thượng Bồ đề, cũng không bị ràng buộc ở thượng phẩm, Phạm pháp tha thắng xứ, nếu chuyển thọ sanh qua đời khác mà quên hết bổn niệm, gặp được bạn lành vì muốn giác ngộ Bồ tát giới niệm. Tuy nhiều lần thọ lại mà không phải là mới được giới, căn cứ theo kinh văn này thì biết thọ trì giới tỳ kheo thì gọi là Tăng giới, nên ở trong Tăng lễ thỉnh thập sư bạch Tứ Yết Ma mà được. Nhưng suốt đời này thọ trì giới Bồ tát gọi là thọ Phật giới. Nên ở trước mặt giới sư khải bạch chư Phật, ba phen Yết Ma mà được, thẳng đến quả giác ngộ ở thân sau.

Cho nên đức Thích Ca Thế tôn, Văn Thù, Di Lặc là tam sư của giới Bồ tát, chư Phật làm chứng minh. Chư Phật Bồ tát chưa lìa khỏi chơn tế, nên người cầu giới thật trụ ở phương này, hay khiến cho việc thọ nhận được lợi ích, bởi do cơ cảm của chúng sanh, cùng với chư Phật giao cảm nhau, như con càng có lòng hiếu thảo thì mẹ càng thương xót, ví như nước sông càng trong thì mặt trăng càng hiển bày, thọ đại thừa giới là chơn Phật tử. Chư Phật Bồ tát từ bi hộ niệm cũng lại như thế. Ngày sau vì các vị vâng thọ kinh luật đại thừa kết đàn trải tòa, nhóm chúng, thay đổi tâm tự lợi của Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Thức Xoa Ma Na, Sa Di, Sa Di Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, trở thành tâm lượng rộng lớn của Bồ tát trang nghiêm cõi nước để độ sanh. Chuyển biệt giải thoát của Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Thức Xoa Ma Na, Sa Di, Sa Di Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, trở thành tam trụ giới bảo giải thoát của Bồ tát (trong văn đã cử chung bảy chúng, tùy theo chúng nào có mà thêm vào). Nhưng giới mầu nhiệm của tam tụ này, thể vốn là vô tác biến khắp pháp giới, lượng thì sánh đồng trần sa, mượn sắc biểu để hiển bày. Tuy nói rằng thọ, chính là toàn tánh khởi tu không hai mà hai. Tuy nói rằng trì, chinh là toàn tu tại tánh, hai mà không hai. Đây là hạt giống Phật, theo duyên mà khởi, tánh tu tương quan thành tựu, đắc được thể này rồi, mặc tình chỉ ác hành thiện, mặc tình lợi vật tế sanh, ngay đang trong lúc chỉ ác hành thiện là vẫn thực hành hạnh lợi sanh, chứ thật không có việc chỉ ác hành thiện là ngưng làm việc lợi sanh. Do vì các pháp vốn không sanh, duy nhất có một con đường chơn tịnh.

Luận Khởi Tín nói: “Do vì biết pháp tánh không có nhiễm ô, tùy thuận tu hành Thi Ba La Mật, mà tánh ở đây tức là tánh giới, đức Phật chúng sanh đều đầy đủ, loài cựa động vốn sẳn có, có tánh tức là có tâm, hễ có tâm thì đều thành Phật”.

Kinh Phạm Võng chép: “Kim cang quang minh bảo giới là nguồn gốc của tất cả Phật, là nguồn gốc của tất cả Bồ tát, là chủng tử của Phật tánh. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tất cả ý thức sắc tâm là tình là tâm, đều vào trong phạm vi giới pháp Phật tánh”. Nhưng e rằng các vị nếu không phát đại nguyện vô thượng Bồ đề, và trong hiện đời có phạm tội thất nghịch, tuy là cái lý thể của Phật tánh ấy người người vốn đầy đủ chưa từng kém thiếu, mà cuối cùng cái đương thể giới pháp khó phát khởi. Trong kinh luật đã chứng minh điều đó, thế nên cần phải hỏi kỹ. Các vị lát nữa đây, lại theo đại đức dẫn lễ ngay  đêm nay vào trong nhà sám hối, đối trước thầy Yết Ma, đầu tiên là đem giới phẩm mà các vị vốn đã phát nguyện thọ trì. Trong những giới ấy hoặc nhiễm hoặc tịnh, tất cả đều nên phát lộ, kế đến y theo đại thừa đã ngăn mà xét rõ ràng bảy tội nghịch.

 Nếu giới trọng căn bổn không bị phá, thì bảy tội ác nghịch không phạm, như thế mới có thể như luật như pháp thanh tịnh trao nhận. Chư  Phật khen ngợi long thiên giữ gìn, cho nên nói: “Tỳ ni còn ở đời thì chánh pháp được tồn tại lâu dài”. Vậy các vị có thể y theo lời dạy mà vâng làm không?

 Đại chúng đều đáp: Y giáo phụng hành.

Dẫn lễ xướng :

Các Tỳ Kheo… (nếu có các chúng khác thì thêm vào), cùng đứng dậy, nghe tiếng khánh lễ tạ ba lạy, vén y, lạy xong, thâu tọa cụ, phân ban, người nghinh thỉnh xuất ban, đưa Hòa thượng trở về phương trượng.

Lễ nghi như thường lệ. Đưa xong vẫn đến  giới đường lễ đưa hai thầy và tạ dẫn lễ sư xong, thứ lớp đều trở về chỗ cũ, đợi đầu hôm hỏi việc sám hối.

Kinh Phạm Võng chép: “Lúc cho người thọ giới, không được lựa chọn. Tất cả quốc vương, vương tử, đại thần, bá quan, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, tín nam, tín nữ, dâm nam, dâm nữ, 18 phạm thiên, sáu cõi trời dục, không căn, hai căn, huỳnh môn, nô tì, tất cả quỷ thần đều được thọ giới. Lại nói rằng nếu lúc muốn thọ giới, sư nên hỏi rằng hiện thân có làm bảy tội nghịch không. Bồ Tát pháp sư không được cho người phạm bảy tội nghịch thọ giới”.

Cho nên biết lý tánh không khác, người có tâm thì đều thu nhận, việc chướng ngại nên ngăn ngừa, người không phạm mới được thọ. Đã ở trong sự không chọn lựa mà phân chia chọn lựa, nhưng trong việc thẫm xét lại có chánh có quyền biến, có đốn có tiệm khác nhau. Cho nên nay chia làm bốn để tiện chiếu soi xét rõ mọi sự việc, xét cơ nghi mà thọ nhận, nếu không am tường trước, đến thời sẽ trở thành lờ mờ.    

     

1. Xuất gia nam nữ, nếu thọ trì giới Thức Xoa Ma Na, Sa Di, Sa Di Ni, hoặc học giới đã đủ không thiếu, hoặc thân khí hoàn mỹ không bị ngăn, đã trải qua đăng đàn, bạch Tứ Yết Ma, từng viên mãn tỳ kheo, tỳ kheo ni giới. Nay lại thêm phát đại tâm cầu xin ba tụ, do vì việc “hành bố” chẳng vượt qua, không bỏ trụ trì tăng bảo, như pháp như luật gọi đó là chánh thọ, thọ rồi gọi là Bồ tát tỳ kheo, Bồ tát tỳ kheo ni.

2. Thọ Thức Xoa Ma Na, Sa Di, Sa Di Ni, hoặc học giới tuổi đời chưa đủ, dù tuổi đủ nhưng  các căn không đủ, cũng có thể phát tâm Bồ đề, có thể hành hạnh Bồ tát, tuy đầy đủ nhưng không thu nạp vào hàng Tăng. Nhiếp ở chỗ là Phật tánh bình đẳng, do vì không trải qua thọ cận viên, liền cầu ba tụ, cấp bậc của giới tuy vượt phép nhưng Phật từ bi tạm khai cho. Nghĩa là quyền biến mà cho thọ, thọ rồi gọi là Bồ Tát Thức Xoa Ma Na, Bồ Tát Sa Di, Bồ Tát Sa Di Ni.

3. Nếu có nam nữ tại gia dốc lòng tin tam bảo, siêng tu thập thiện hoặc thọ năm chi học xứ, cẩn thận gìn giữ nhiều năm, hoặc trì tám quan trai giới, nghiêm giữ một ngày, đến nay mới phát tâm thù thắng cầu thọ đại giới Bồ tát, để tự mình từ tiểu thừa tiến đến đại thừa, lòng tin trí huệ càng thêm tăng. Nghĩa là tạm thọ, thọ rồi thì tạm gọi là Bồ Tát Ưu Bà Tắc, Bồ Tát Ưu Bà Di.

4. Nếu người nam nữ ở thế tục, nhiều kiếp gieo trồng thiện căn sâu dày, đời này mê đắm không mau phản tỉnh, bỗng dưng tỏ suốt, liền vui buồn. Một niệm sanh lòng tin qui y tam bảo, khẩn cầu giới pháp đại thừa, nguyện lực sâu rộng, đồng sự nhiếp hóa, do vì  chưa từng giữ gìn giới phẩm tại gia, một mai bệnh tật, vâng thọ học xứ Bồ tát gọi là đốn thọ. Thọ rồi thì gọi là Bồ Tát Cận Sự Nam, Bồ Tát Cận Sự Nữ.

Bốn loại này lúc thẩm xét để cho sám hối, vẫn phân bốn loại khác nhau.

Xét về hạng người thứ nhất:

Nếu là tỳ kheo nghiêm hỏi việc hành trì 250 giới. Nếu là tỳ kheo ni xét rõ bổn pháp 348 giới cho đến bảy việc ngăn, hai bộ phải xét hỏi cho thông. Nếu đã hủy phá tội căn bản, thì phải nên Yết Ma diệt tẩn, còn như  phạm bảy tội nghịch thì nên theo chỗ ngăn của giới luật, ngoài ra còn can phạm những điều sai trái khác thì vẫn cho sám hối để được thanh tịnh. 

Xét về hạng người thứ hai:

Nếu là thức xoa ma na, ở đây gọi là học giới nữ, Phật dạy phải học ba pháp. Nếu lúc thẩm xét sám hối thì nên hỏi đầy đủ:

1. Học xứ căn bản, bốn giới trọng.

2. Học sáu pháp, nghĩa là: Xúc chạm nhau mà có nhiễm tâm, trộm dưới năm tiền, giết mạng chúng sanh, tiểu vọng ngữ, phi thời thực, cố uống rượu.

3. Học hành pháp, nghĩa là trong các oai nghi giới của đại ni. Nếu là sa di, sa di ni, thì chỉ xét về mười chương giới căn bổn, còn tội nặng thất giá, cả ba chúng phải đều hỏi. Trong ba chúng như thế, nếu có ai phạm tội căn bản, thất giá, tất cả đều y theo luật mà diệt tẩn. Nếu học giới nữ mà sáu pháp không thanh tịnh, thì lại ở trong hai năm yết ma, do người ấy đã thọ giới thức xoa ma na, tức chẳng phải nhiếp về chúng sa di ni. Lại thuộc về dạng khuyết học thức xoa ma na, lại chẳng phải là người nữ chơn thật thanh tịnh học giới, mà cả hai đều không mau hướng về nền tảng của ba tụ bị thiếu. Cho nên không thể tiến thọ giới Bồ tát, còn ba chúng nhỏ thì chỉ chế ngăn học xứ này, lại càng nghiêm chế đối với sa di ni.

Xét về hạng người thứ ba:

Nếu là năm giới cận sự nam nữ, trong khi thọ có đầy đủ, nhiều, phân nửa, một ít phần, vì không đồng nhau nên tùy theo chỗ thọ, tất cả đều nên hỏi rõ, không được vì ít phần mà hỏi nhiều phần, vì người thọ đầy đủ mà hỏi nửa phần. Nếu là tám giới cận sự nam nữ, người kia đã thọ, đã khác với năm giới trọn đời của cư sĩ tại gia, cho nên lúc xét hỏi thì chỉ hỏi việc trì phạm một ngày một đêm. Hơn nữa, tám giới chế giới dâm ở trong một ngày một đêm, cấm hẳn không khai cho, hoàn toàn khác với việc ngăn cấm tà dâm của năm giới. Như xét về bảy tội nghịch của bốn chúng thì không có khác. Trong ấy hoặc bốn tội trọng thất nghịch có phạm, mỗi một tội nên cần phải ngăn cấm, ngoài ra cho sám hối hết tội, mới tiến hành cho thọ.

Xét về hạng người thứ tư:

Những người ấy cùng một hướng là chưa thọ Thi la, nay mới phát đại tâm cầu thọ, nên căn cứ vào trong kinh thiện sanh hỏi về bảy loại giới chướng, nếu thiện nam tín nữ nào không can hệ đến bảy giới chướng, trước phải cho thọ năm giới Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, nhưng năm giới cấm tục đế này chính là nền tảng căn bản của giới tại gia Bồ tát, liền ở ngay trong ngày đó lại vâng thọ kinh Phạm Võng. Xét về bảy tội nghịch, nếu không phạm ba tụ mới được tiến thọ, nay tuy mới thọ năm giới, bảy tội nghịch đâu hẳn có liên can. Phật dạy có ngăn nhưng cần phải noi theo mà xét hỏi.

Phàm lúc tác pháp, nên phân chia ra ngày sau, phải trải tòa ở nhà sạch, sắp đặt trang nghiêm, phát thẻ, chia ban, ra vào, tất cả nghi thức đều giống như việc thọ giới cụ túc không khác. Đến giờ đánh kiền chùy tập chúng, dẫn lễ đến trước pháp đường, cả đại chúng đều đảnh lễ ba lạy, sai bốn người dẫn đầu đến kiểm tra, thư ký đi tuần xét, các giới sư lễ nghi như trước không khác. Dẫn lễ sư kế đến đem năm người, một người cầm  nhang đến thỉnh Yết Ma Sư lâm giới đường, lễ Phật xong lên tòa ngồi, dâng hương, cả đại chúng cử bài tán hương xong.

Dẫn lễ nói:

Thượng hương, trở về chỗ, người nghinh thỉnh đến ra ban, trải tọa cụ. Nghe tiếng khánh đảnh lễ ba lạy, vén y, lạy xong thâu tọa cụ, mỗi người đều lui về nhóm của mình, lễ nghi lời chúc, đều chép rõ trong nghi đàn thứ hai, trong đây không nêu ra.

Dẫn lễ nói:

Các tỳ kheo… đều phải kiền thành, theo lời tôi nói, đều tụng thần chú đại bi, cầu Phật gia hộ để thanh tịnh pháp diên, nhờ oai lực mà trừ sạch ma chướng, tụng thần chú này ba biến xong, cử rằng:

Nam Mô Cam Lộ Vương Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).

Các tỳ kheo đồng xếp hàng trải tọa cụ, nghe tiếng khánh lạy ba lạy, vén y, quì gối chắp tay.

Nói đến pháp khí thì rèn lâu mới thành, vậy mà còn sợ mài dũa chưa đến lúc. Phàm người muốn tiến đến bậc Thánh, trước hết phải chọn cho mình con đường. Nay thì các vị đã được đăng đàn thọ cụ túc giới, thánh tâm càng bền chắc. Cho nên ta vì các vị đốt hương trải tòa, cung thỉnh luật sư thượng mỗ… hạ mỗ…, xét hỏi già nạn, sám hối A Xà Lê. Lời thỉnh sư, lẽ ra các vị tự cùng bày tỏ, nhưng e rằng các vị chưa thể làm được, nên bây giờ tôi hướng dẫn dạy các vị. Mỗi người đều tự xưng pháp danh, cả đại chúng đều xưng pháp danh, còn những lời khác nên nói theo ta.

Đại đức một lòng nghĩ, con tỳ kheo mỗ giáp… nếu có các chúng khác thì thêm vào, nay thỉnh đại đức xét hỏi già nạn sám hối A Xà Lê. Cúi xin đại đức vì con làm mà xét hỏi già nạn sám hối A Xà Lê, con nương theo đại đức được vào ngôi Bồ tát thanh tịnh, xin xót thương chúng con.

Thỉnh ba lần và lạy ba lạy

Các tỳ kheo…(có các chúng khác thì thêm vào), đã ân cần thỉnh ba lần, tôi nay vì các vị làm sám hối A Xà Lê xét hỏi già nạn. Nếu có lời gì dạy bảo thì các vị đều phải nghe kỹ. Nói đến việc dạy bảo thì tuỳ theo căn cơ mà bàn, trước tiệm sau đốn, luật nhân nơi sự mà chế. Do thân và tâm có liên quan nhau, thân nếu không thanh tịnh thì tâm giới từ đâu mà sanh? Nay năm thiên đã giữ gìn kiên cố, thì ba tụ càng tăng thượng. Nguyện làm theo bốn điều nguyện rộng lớn, chẳng phải chuyên tự lợi. Đây là phát nhân tâm rộng lớn, đến ngay bảo sở, mong nhờ quả đức Như Lai, không kẹt ở hóa thành. Nếu có hoài bão thù thắng này, thì đáng gọi là điều lành tối thượng, nhưng e rằng phao nổi bị tổn thương, món đồ bị bể thì khó chứa đựng vật gì, đã trái lời Phật dạy, phạm hạnh nào lập, tội trước chưa sạch thì không do đâu mà tu chứng.

Cho nên trong luật tạng chép: “Phạm bốn tội trọng, đạo quả bị lui sụt. Ví như người bị chặt đầu không thể sống lại; như cây bị chặt đọt không thể nào mọc lại; như cây kim bị sứt lỗ không thể dùng được; như tảng đá bị vỡ làm đôi không thể hàn nguyên”. Đây là điều mà trong lúc thọ giới, theo pháp thì không thể dung thứ vậy.

Lại nữa, Đại Thừa Phạm Võng kinh chép: “Nếu hiện đời có bảy tội ngăn, thì giới sư không được cho thọ giới. Nếu không có bảy tội ngăn thì được cho thọ giới”.

Do đó mà xem, theo tiểu thừa bảy chúng phạm tội trọng, đại thừa tiến thọ thì không cho, đại thừa nếu phạm bảy tội ngăn, một khi trừ bỏ thì có căn cứ. Tuy nói rằng tội vốn không có tự tánh, lý đầy đủ chơn thường, nhưng cần phải sự  không có tâm hủy phạm, thì mới khế họp với đạo. Cho nên nay trước hết căn cứ vào tạng Tỳ Ni. Xét về trong lúc thọ giới tỳ kheo, ở trong mỗi tướng trì phạm, vẹn toàn kém thiếu.

Đây riêng đơn cử tỳ kheo mà nói, nếu có sáu chúng khác cùng thỉnh xét để sám hối, thì nên  sửa văn đọc rằng: Xét về tội trong giới tỳ kheo, tỳ kheo ni, thức xoa ma na, sa di, sa di ni, ưu bà tắc, ưu bà di, trong mỗi tướng trì phạm đủ thiếu… Nay nêu chung tên của bảy chúng để tiện đến lúc tùy nghi sử dụng.

Kế đến noi theo trong đại thừa giáo, chọn bảy tội ngăn trọng ác, tôi nay theo đó hỏi các vị. Các vị  nên đúng như thật mà đáp, nếu không có chịu tỏ bày tâm ý, đúng như sự thật mà đáp, ác nghiệp cũ đã bị che mờ, căn lành mới rất khó phát sanh. Dù cho theo đại chúng sám hối, thì tội này do đâu mà trừ, việc thọ giới nhất định là không đắc giới, lại còn mắc thêm tội vọng ngữ. Nên biết rằng đại giới Bồ tát vốn ở nơi tâm địa, tâm địa tạp nhạp thì chẳng phải là món đồ đựng giới.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm chép: “Các vị nay muốn nghiên cứu vô thượng bồ đề, phải có tâm chánh trực” các vị nên trả lời tôi hỏi.

Vỗ xích một tiếng: 

Hỏi: Các vị có y giáo phụng hành không?

Đại chúng đều đáp rằng: Y giáo phụng hành.

 Còn việc xét hỏi nếu chỉ hơn mười người thì liền theo giới tướng mà thẫm xét, không hẳn phải khiến ra vào, hoặc trong đó có tỳ kheo ni… sáu chúng khác,  nên bảo cho ra, chỉ riêng mời vào xét hỏi, do vì giới tướng bất đồng, nếu chúng tỳ kheo nhiều, thì nên bảo họ ra khỏi giới đường, rồi y cứ vào thẻ mà thứ lớp cho vào giới đường để  xét hỏi, chỉ  e rằng việc hỏi đáp không rõ ràng, lời nói khó hiểu.

Dẫn lễ xướng:

Các tỳ kheo cùng một lúc đứng dậy, nghe tiếng khánh lạy ba lạy, vén y, lạy xong thâu tọa cụ. Người dẫn đầu thống lãnh đại chúng ra khỏi giới đường vân tập, không được tán loạn, đợi lúc mời vào và phải theo thứ tự từng nhóm, từ cánh cửa bên trái đến chỗ sư kiểm thẻ, bèn y theo thứ lớp mà tiến vào giới đường, đến trước tòa của giới sư, việc xét hỏi đã xong. Từ cánh cửa bên phải đến chỗ sư giao thẻ, căn cứ theo thứ lớp mà ra khỏi giới đường. Nhóm thứ nhất chờ ở giới đường, còn những chúng khác thì tạm lui.

Đợi chúng khác ra khỏi giới đường rồi thì bảo rằng:

Nhóm thứ nhất đến trước xếp hàng xong, nếu giới đường chật hẹp thì phân làm hai hàng, giới đường rộng thì một hàng.

Trải tọa cụ, nghe tiếng khánh lạy ba lạy, vén y, lạy xong quỳ gối, chắp tay mỗi mỗi đều nên quán tưởng vận tâm, xướng ba lần.

Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo (3 lần).

Mỗi người đều xưng pháp danh của chính mình, xưng xong sư vỗ xích nói rằng:

Các tỳ kheo, tôi nay hỏi các vị thọ trì bốn pháp Ba La Di, các vị nên như thật mà đáp.

1. Phạm hạnh bất tịnh, thọ pháp dâm dục, các vị có phạm giới nầy  không? Có hay không nên như thật mà đáp. Giới tướng đã hỏi trong đây, không thể chép hết như trong quảng văn. Vì sợ rằng người đông kéo dài  chậm trễ, nên chỉ tóm yếu cương mục mà hỏi thôi.

2. Vật có chủ không cho mà trộm lén lấy, các vị ở trong giới này có phạm không? Có hay không thì đều nên như thật mà đáp.

3. Cố đoạn mạng người, khen ngợi khuyên vui cho chết (như trên).

4. Thật không có hiểu biết tự nói ta đã được pháp thượng nhơn, tỳ kheo phạm giới pháp này không được cùng với các tỳ kheo Bồ tát, Yết Ma chung và cùng ở chung. Gọi đó là phá căn bản, nên như pháp như luật như lời Phật dạy mà bạch tứ yết ma diệt tẩn. Thối thất không có phần đạo quả, không được tiến thọ đại giới Bồ tát.

Căn cứ vào trong kinh Mục Liên Vấn chép: “Người phạm tội Ba La Di sẽ đọa vào trong địa ngục Diệm Nhiệt”.

Giới sư vỗ thủ xích nói:

Các tỳ kheo, tôi nay hỏi các vị 13 pháp Tăng Già Bà Thi Sa đã thọ trì, các vị nên như thật mà đáp.

1. Cố lộng âm xuất tinh, trừ trong mộng, các vị ở giới nầy có phạm không? (có không như thật mà đáp)

2. Có ý dâm dục xúc chạm với thân người nữ (như trên).

3. Nói lời dâm dục thô ác với người nữ (như trên).

4. Dạy người nữ đem pháp dâm dục cúng dường (như trên).

5. Vì người nam nữ qua lại làm mai mối (như trên).

6. Ở chỗ có nạn, chỗ có ngăn, làm phòng quá lượng không có thí chủ, không mời tỳ kheo khác đến chỉ chỗ (như trên).

7. Ở chỗ có nạn, chỗ có ngăn, làm phòng lớn có thí chủ, không mời tỳ kheo khác đến chỉ chỗ (như trên).

8. Vì giận hờn mà che giấu, tỳ kheo chẳng phải phạm tội Ba La Di,  đem tội Ba La Di không căn cứ mà vu báng (như trên).

9. Vì cớ giận hờn, lấy chút ít việc trong phần khác, tỳ kheo không phạm tội Ba La Di mà vu báng bằng tội Ba La Di không căn cứ (như trên).

10. Muốn phá hoại hòa họp Tăng, phương tiện nhận phá hoại hòa họp Tăng, cố giữ không bỏ (như trên).

11.Có bạn đảng khác giúp người phá hoà hợp Tăng, ba lần can ngăn mà không bỏ (như trên).

12. Nếu tỳ kheo nương nơi tụ lạc, hoặc ở thành ấp, làm dơ nhà người, làm hạnh xấu, trở lại vu báng yết ma như pháp tăng, ba lần can gián mà không bỏ.

13. Ác tánh chống trái chư Tăng can ngăn, ba lần can gián không bỏ (như trên).

Tỳ kheo ở trong 13 pháp nầy, tuỳ theo phạm mỗi một pháp, biết mà che dấu, nên cho hành pháp Ba Lợi Bà Sa, hành pháp Ba Lợi Bà Sa xong, lại thêm cho sáu đêm Ma Na Đoả, hành pháp Ma Na Đoả xong. Vẫn ở trong 20 vị Tăng xuất tội, nếu không đủ số 20 vị Tăng, thì tội nầy không được khỏi. Nếu không y cứ vào trong luật tạng để sám hối xuất tội. Căn cứ trong kinh chép: sẽ bị đoạ trong địa ngục Hào Khiếu.

Giới sư vỗ xích nói:

Các tỳ kheo tôi nay hỏi các vị thọ trì hai pháp bất định,  các vị nên nghe cho kỷ chân thật mà đáp.

1. Nếu Tỳ kheo cùng với người nữ ngồi riêng ở chỗ có che, chỗ ngăn, chỗ ngồi có thể hành dâm mà nói lời phi pháp, hoặc Ba La Di, Tăng Già Bà Thi Sa, hoặc Ba Dật Đề, ở trong ba pháp nầy thì nên như pháp mà trị, vậy vị có phạm không? (có không như thật mà đáp)

2. Nếu tỳ kheo cùng với người nữ ở chỗ trống, chỗ không thể ngồi làm việc dâm dục mà nói lời phi pháp, hoặc Tăng Già Bà Thi Sa, hoặc Ba Dật Đề, ở trong hai pháp nầy mà trị (như trên).

Các tỳ kheo phạm hai pháp nầy, trị tội khinh trọng bất định, đợi tình chơn sự thật, hoặc dùng ba pháp mà trị, hoặc dùng hai pháp mà trị, hoặc dùng một pháp mà trị, cho nên gọi là pháp bất định.

Sư vỗ xích nói:

Chư tỳ kheo, nay hỏi các vị thọ trì 30 pháp Ni Tát Kỳ Ba Dật Đề nầy, các vị nên nghe cho kỷ chân thật mà đáp.

1. Chứa y quá hạn mười ngày, các vị ở trong giới nầy có phạm không? (có không như thật mà đáp).

2. Lìa ba y mà ngủ ở chỗ khác, trừ  Tăng có làm pháp yết ma (như trên).

3. Chứa y phi thời  quá một tháng (như trên).

4. Nhận y từ cô Tỳ kheo Ni chẳng phải bà con, trừ khi trao đổi (như trên).

5. Bảo cô Ni không phải bà con giặt nhuộm y dơ (như trên).

 6. Theo cư sĩ, vợ cư sĩ  không phải bà con xin y. Trừ trường hợp đặc biệt là: “Y bị giặc cướp,  bị mất,  bị lửa cháy,  bị nước trôi” (như trên).

7. Tỳ kheo y bị mất, bị cướp giựt, bị lửa cháy, bị nước trôi, có cư sĩ, vợ cư sĩ không phải bà con, cúng y mà thọ nhận không biết đủ (như trên).

8. Cư sĩ, vợ cư sĩ, để dành đủ giá tiền may y cho Tỳ kheo, Tỳ kheo đó trước không nhận tùy ý thỉnh. Đến nhà cư sĩ tán thán để được cúng y tốt (như trên).

9. Hai nhà để dành tiền may y cho tỳ kheo. Tỳ kheo đó trước không nhận cư sĩ tuỳ ý thỉnh, liền đến hai nhà  tán thán để được cúng y tốt (như trên).

10. thí chủ đưa giá tiền mua y cho tỳ kheo nhờ người giúp việc đưa đến, người giúp việc không đưa cho tỳ kheo, đến lấy ba lần nhớ nghĩ, quá năm sáu lần cầu được y (như trên).

11. Làm ngọa cụ mới bằng loại tơ tằm tạp (như trên).

12. May ngọa cụ bằng lông dê thuần đen (như trên).

13. May ngọa cụ mới không dùng hai phần lông dê đen, phần thứ ba trắng, phần thứ tư xám (như trước).

14. Sử dụng ngọa cụ dưới sáu năm, không chịu xả cái cũ lại may cái mới, trừ khi Tăng yết ma (như trên).

15. May tọa cụ mới không lấy miếng vải cũ vuông một gang tay, may ở trên (như trên).

16.Tự mang lông dê đi quá ba do tuần (như trên).

17. Sai cô Ni không phải bà con giặt lông dê (như trên).

18.Tự tay mình cầm tiền, hoặc vàng bạc, hoặc dạy người cầm, hoặc để dưới đất mà nhận (như trên).

19. Kinh doanh của báu dưới mọi hình thức (như trên).

20. Buôn bán dưới mọi hình thức (như trên).

21. Chứa bát dư quá thời hạn mười ngày (như trên).

22. Chứa bát trám dưới năm chỗ không chảy, lại xin bát mới vì muốn tốt (như trên).

23. Xin chỉ sợi, sai thợ dệt không phải bà con dệt thành y (như trên).

24. Bảo thợ dệt dệt y cúng cho tỳ kheo, tỳ kheo đến nơi ấy  bảo phải dệt y cho thật tốt đẹp (như trên).

25. Tỳ kheo trước cho y tỳ kheo sau vì giận bực đoạt lại (như trên).

26. Có bệnh, chứa các loại thuốc thừa như: sữa dầu, sữa tươi, mật, đường phèn, được uống trong thời gian bảy ngày (như trên).

27. Mùa xuân còn thừa một tháng, nên xin y tắm mưa, nửa tháng nên dùng tắm. Nếu tỳ kheo quá trước một tháng xin y tắm mưa, quá trước nửa tháng dùng tắm (như trên).

28. Còn 10 ngày nữa mới mãn ba tháng hạ, nếu có y cấp thí thì nên nhận, cất chứa cho đến đúng thời y. Không được chứa quá trước mười ngày (như trên).

29. Chốn A Lan Nhã có sự nghi ngờ sợ hãi. Các tỳ kheo có nhân duyên lìa y ngủ cho đến sáu đêm (như trên).

30. Biết là vật của Tăng mà tự cầu về mình (như trên).

Tỳ kheo phạm 30 pháp nầy nên xả cho Tăng, nếu chúng nhiều người, hoặc một người không được xả biệt chúng, nếu không nương vào trong luật xả và sám hối. Căn cứ trong kinh sẽ bị đoạ vào địa ngục Phú Chướng. Cho nên gọi là Xả Đoạ.

Sư vỗ xích nói :

Chư  tỳ kheo nay hỏi các vị thọ trì 90 pháp Ba Dật Đề các vị nên như thật mà đáp.

1. Nếu tỳ kheo biết mà cố nói dối, trong giới nầy các vị có phạm không ? (có không phải chân thật mà đáp).

2. Nói lời hủy nhục bằng giống loài (như trên).

3. Nói hai lưỡi (như trên).

4. Ngủ chung nhà với người nữ (như trên).

5.Cùng với người chưa thọ cụ giới ngủ quá hạn ba đêm (như trên).

6. Cùng tụng kinh với người chưa thọ đại giới (như trên).

7. Nói thô tội của tỳ kheo cho người chưa thọ cụ giới nghe, trừ Tăng có làm pháp yết ma (như trên).

8. Đến người chưa thọ đại giới nói pháp hơn người, nói rằng: “Tôi thấy như thế, tôi đã biết như thế” (như trên).

9. Tỳ kheo nói pháp cho người nữ nghe quá năm, sáu lời (như trên).

10. Tự tay đào đất, hoặc dạy người đào (như trên).

11. Phá hoại thôn xóm của Quỉ thần (như trên).

12. Dối nói lời khác, làm phiền não người (như trên).

13. Hiềm mắng tỳ kheo (như trên).

14. Lấy ngọa cụ… tự trải nơi đất trống, hoặc dạy người trải, bỏ đi không tự cất, không bảo người cất (như trên).

15. Ở trong phòng của Tăng trải ngọa cụ, hoặc bảo người trải, khi đi không tự cất, không bảo người cất (như trên).

16. Biết chỗ của tỳ kheo đã ở trước, sau đến chen vào chỗ giữa trải ngọa cụ ngủ nghỉ, khiến người kia hiềm chật sẽ tự tránh ta mà đi (như trên).

17. Tỳ kheo giận tỳ kheo khác, không vui, cùng ở chung trong Tăng phòng, hoặc tự mình kéo ra, hoặc bảo người khác kéo (như trên).

18. Trên tầng gác, ngồi hay nằm giường dây, giường cây, giường chân ráp (như trên).

19. Dùng nước có trùng mà tự rưới lên bùn, hoặc cỏ, hoặc dạy người rưới (như trên).

20. Làm phòng nhà lớn…bảo lợp tranh, quá hai, ba lớp (như trên).

21. Tăng không sai mà đi giáo giới Tỳ kheo Ni (như trên).

22.  Tăng sai đi giáo thọ Tỳ kheo Ni cho đến mặt trời lặn (như trên).

23. Chê trách tỳ kheo vì ăn uống mà giáo thọ Tỳ kheo Ni (như trên).

24. Cho y Tỳ kheo Ni không phải bà con, trừ  trao đổi (như trên).

25. May y cho Tỳ kheo Ni không phải bà con, Ba Dật Đề (như trên).

26. Ngồi chung với Ni ở chỗ khuất (như trên).

27. Hẹn với Tỳ kheo Ni, cùng đi một đường, trừ lúc có nghi ngờ, có sợ hãi làm bạn đi chung (như trên).

28. Đi cùng một thuyền với Tỳ kheo Ni, trừ khi sang ngang (như trên).

29. Biết do Tỳ kheo Ni khen ngợi, được thứ ăn mà ăn, trừ khi đàn việt có ý định trước (như trên).

30. Hẹn đi chung đường với người phụ nữ (như trên).

31. Chỗ cúng thức ăn nhận hơn một bữa (như trên).

32. Ăn nhiều lần,trừ trường hợp khác là: “Khi bị bệnh, khi thí y, khi may y” (như trên).

33. Ăn chúng riêng, trừ ở trường hợp đặc biệt là: “Khi bị bệnh, khi may y, khi thí y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại chúng nhóm họp, khi đem thức ăn cúng cho Sa môn” (như trên).

34. Đàn việt cúng thức ăn tỳ kheo không bệnh nhận hơn hai ba bát, không chia cho các tỳ kheo khác ăn (như trên).

35. Tỳ kheo ăn đã xong, lại thọ thỉnh, không làm pháp dư thực mà ăn thêm (như trên).

36. Biết Tỳ kheo khác ăn đủ rồi, lại thọ thỉnh không làm pháp dư thực, khiến cho người khác phạm (như trên).

37. Ăn phi thời (như trên).

38. Ăn thức ăn cách đêm (như trên).

39. Ăn thức ăn không mời, hoặc cho thức ăn vào miệng, hoặc thuốc, trừ nước và nhành dương (như trên).

40. Không có bệnh mà tự đòi cho mình thức ăn ngon (như trên).

41. Tự tay cho ngoại đạo nam, ngoại đạo nữ thức ăn (như trên).

42. Trước đã nhận lời mời, trước bữa ăn hoặc sau bữa ăn lại đến nhà  khác, không báo cho tỳ kheo khác, trừ trường hợp đặc biệt là: “Khi bệnh, khi may y, khi thí y” (như trên).

43. Trong nhà ăn có của báu, cố ngồi yên (như trên).

44. Trong nhà ăn có vật báu, ngồi ở chỗ khuất (như trên).

45. Một mình cùng với người nữ, ngồi chỗ đất trống (như trên).

 46. Hẹn tỳ kheo khác cùng đến trong xóm, rốt cuộc không cho tỳ kheo ấy ăn, vì không vui đuổi đi (như trên).

47. Không bệnh nhận thỉnh thuốc quá hạn bốn tháng, trừ thường thỉnh, thỉnh lại, thỉnh từng phần, thỉnh trọn đời (như trên).

48. Xem quân trận, trừ khi có nhân duyên (như trên).

49. Có nhân duyên ở trong quân quá hai, ba đêm (như trên).

50. Ở trong quân hai, ba đêm, hoặc lúc xem quân trận chiến đấu, hoặc xem thế lực quân bộ, quân voi, quân ngựa đi (như trên).

51. Uống rượu (như trên).

52. Đùa giỡn trong nước (như trên).

53. Lấy tay thọc lét tỳ kheo khác (như trên).

54. Không nghe người khác can gián (như trên).

55. Dọa làm tỳ kheo khác sợ (như trên).

56. Tỳ kheo không bệnh quá nửa tháng tắm, trừ trường hợp đặc biệt là: “Khi nóng, khi bệnh, khi làm việc, khi gió mưa, khi đi đường” (như trên).

57. Tỳ kheo không bệnh, tự vì mình đốt lửa ở chỗ đất trống, hoặc bảo người đốt, trừ khi có nhân duyên (như trên).

58. Giấu y bát, tọa cụ, ống đựng kim của tỳ kheo, hoặc tự mình giấu, hoặc dạy người giấu (như trên).

59. Tỳ kheo cho y Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni, Thức Xoa Ma Na, Sa Di, Sa Di Ni, sau không nói với chủ tự lấy lại mặc (như trên).

60. Được y mới, không lấy ba loại màu nhuộm làm cho hoại sắc, hoặc xanh, hoặc đen, hoặc vỏ cây mộc lan (như trên).

61. Cố giết đoạn mạng súc sanh (như trên). 

62. Biết nước có trùng mà uống dùng (như trên).

63. Cố ý làm não loạn tỳ kheo khác, khiến không được vui trong chốc lát (như trên). 

64. Biết tỳ kheo khác phạm tội thô mà che giấu (như trên).

65. Cho người chưa đủ 20 tuổi thọ cụ túc (như trên).

66. Việc tranh cãi, đã được dập tắt như pháp, sau lại khơi dậy (như trên).

67. Biết là đồng bọn giặc, mà hẹn nhau cùng đi (như trên).

68. Nói phạm dâm dục chẳng phải là pháp chướng đạo, cho đến ba lần can ngăn không bỏ (như trên).

69. Biết người nói dâm dục chẳng chướng ngại đạo pháp, tà kiến như thế mà không bỏ, lại cung cấp vật cần dùng. Cùng đồng yết ma, cùng ngủ nghỉ (như trên).

70. Sa Di nói hành dâm dục chẳng phải là pháp chướng đạo, Sa Di bị diệt tẩn rồi, tỳ kheo lại chứa cho ở, ngủ chung (như trên).

71. Chống cự người khuyên học, lại hỏi nạn các tỳ kheo có trí huệ trì luật khác (như trên).

72. Khinh chê giới luật (như trên).

73. Lúc nói giới không để tâm lắng nghe, không hiểu biết (như trên).

74. Cùng yết ma cho y rồi sau đó cố nói lấy vật của chúng Tăng mà  cho (như trên).

75. Chúng Tăng xử việc chưa xong, không gởi dục đứng dậy đi (như trên).

76. Gởi dục rồi sau hối hận (như trên).

77. Biết các tỳ kheo khác tranh cãi nhau, nghe lời người nầy nói rồi lại đem nói với người khác (như trên).

78. Nóng giận, không vui lấy tay đánh tỳ kheo khác (như trên).

79. Giận bực không vui nhá tay đánh tỳ kheo (như trên).

80. Vu khống Tỳ kheo khác bằng pháp Tăng Già Bà Thi Sa không căn cứ (như trên).

81. Khi vua chưa ra, chưa cất của báu. Nếu vào qua khỏi ngạch cửa cung (như trên).

82. Tự mình cầm của báu, và những của báu trang sức khác, hoặc bảo người cầm, trừ khi ở trong Tăng Già Lam, và chỗ ngủ nhờ (như trên).

83. Phi thời vào làng xóm, không dặn tỳ kheo khác (như trên).

84. Làm giường chân cao quá tám ngón tay đức Như Lai, trừ lỗ mộng để ráp thanh (như trên).

85. Dùng bông Đâu La dồn làm giường dây, giường cây, ngọa cụ, nệm ngồi (như trên).

86. Làm ống đựng kim bằng xương, răng nanh, sừng (như trên).

87. May ngọa cụ mới bề rộng bề dài quá lượng (như trên).

88. May y che ghẻ bề rộng bề dài quá lượng (như trên).

89. May y tắm mưa bề rộng bề dài quá lượng (như trên).

90. May y lớn hơn lượng y của Như Lai (như trên).

Chư Tỳ kheo nếu phạm 90 pháp nầy không y cứ vào trong luật để sám hối. Căn cứ théo kinh chép: Sẽ bị đoạ vào địa ngục Bát hàn Bát nhiệt, cho nên gọi là Đoạ.

Chư Tỳ kheo tôi nay hỏi các vị bốn pháp Ba la Đề Đề Xá Ni đã thọ trì, các vị nên nghe cho kỷ như thật mà đáp.

1.  Không bị bệnh vào trong thôn theo cô ni không phải bà con tự tay mình nhận thức ăn. Các vị trong giới nầy có phạm không ? (Có không như thật mà đáp).

2. Tỳ kheo Ni ở trong nhà cư sĩ cúng thức ăn, chỉ bảo: “Đem canh cho vị nầy, đem cơm cho vị kia”. Hoặc tự không nói dừng lại, không có tỳ kheo khác nói để dừng lại (như trên).

 3. Trước đã làm pháp Yết ma học gia, Nhận thức ăn của học gia, tỳ kheo biết đó là nhà học gia, trước không thỉnh, không bệnh, tự tay mình nhận thức ăn mà ăn (như trên).

4. Nơi A Lan Nhã, chỗ có nghi ngờ sợ hãi, trước không báo cho người đàn việt biết, không nhận thức ăn ngoài Tăng Già Lam, nhưng không bệnh mà ở trong Tăng Già Lam, tự tay mình nhận thức ăn mà ăn (như trên).

 Chư Tỳ kheo phạm bốn pháp nầy, nên hướng đến tỳ kheo khác sám hối. Tôi phạm tội thật đáng quở trách, việc không nên làm. Đó gọi là pháp hối quá. Nếu không y theo trong luật sám hối. Cắn cứ trong kinh sẽ bị đoạ vào địa ngục Hắc Thằng.

Sư vỗ xích nói:

Các tỳ kheo, tôi nay hỏi các vị một trăm pháp cần phải học, các vị nên nghe cho kỷ, như thật mà đáp.

1. Mặc Niết Bàn Tăng không ngay ngắn. Các vị trong giới nầy có phạm không (có không nên như thật mà đáp).

2.  Mặc ba y không ngay ngắn (như trên).

3. Vắt ngược y vào nhà cư sĩ (như trên).

4. Vắt ngược y vào ngồi nhà cư sĩ (như trên).

5. Áo quấn vào cổ vào nhà cư sĩ (như trên).

6. Áo quấn trên cổ vào ngồi nhà cư sĩ (như trên).

7. Trùm đầu vào nhà cư sĩ (như trên).

8.Trùm đầu vào ngồi nhà cư sĩ (như trên).

9. Nhảy nhót đi vào nhà cư sĩ (như trên).

10. Nhảy nhót đi vào ngồi nhà cư sĩ (như trên).

11. Ngồi chồm hổm trong nhà cư sĩ (như trên).

12. Chống nạnh đi vào nhà cư sĩ (như trên).

13. Chống nạnh vào ngồi nhà cư sĩ (như trên).

14. Uốn éo thân mình vào nhà cư sĩ (như trên).

15. Uốn éo thân mình đi vào ngồi nhà cư sĩ (như trên).

16. Khoác tay đi vào nhà cư sĩ (như trên).

17. Khoác tay tay đi vào ngồi nhà cư sĩ (như trên).

18. Khéo che mình kín đáo vào nhà cư sĩ (như trên).

19. Che mình kín đáo vào ngồi nhà cư sĩ (như trên).

20. Ngoái nhìn hai bên đi vào nhà cư sĩ (như trên).

21. Ngó ngoái nhìn hai bên khi ngồi nhà cư sĩ (như trên).

22. Im lặng vào nhà cư sĩ (như trên).

23. Im lặng vào ngồi nhà cư sĩ (như trên).

24. Đùa cười đi vào nhà cư sĩ (như trên).

25. Đùa cười vào ngồi nhà cư sĩ (như trên).

26. Để ý khi nhận thức ăn (như trên).

27. Nhận thức ăn vừa ngang miệng bát (như trên).

28. Nhận canh vừa ngang miệng bát (như trên).

29.  Nhận cơm canh đều nhau ăn (như trên).

30. Theo thứ lớp nhận thức ăn (như trên).

31. Moi xóc giữa bát ăn (như trên).

32. Không bệnh vì mình đòi cơm canh (như trên).

33. Lấy cơm đậy canh lại mong được thêm (như trên).

34. Nhìn bát tỳ kheo ngồi gần (như trên).

35. Để ý trong bát khi ăn (như trên).

 36. Vắt cơm lớn miếng ăn (như trên).

37. Há miệng lớn chờ cơm ăn (như trên).

38. Ngậm cơm nói chuyện (như trên).

39.Vắt cơm ném vào trong miệng (như trên).

40. Khi ăn để cơm rơi đổ (như trên).

 41. Dồn cơm hai bên má ăn (như trên).

42. Nhai thức ăn ra tiếng (như trên).

43. Húp thức ăn ra tiếng (như trên).

44. Le lưỡi liếm thức ăn (như trên).

45. Không được rảy tay khi ăn (như trên).

46. Tay nhặt cơm rơi ăn (như trên).

47.Tay dơ cầm đồ đựng thức ăn (như trên).

48. Đổ nước rửa bát đổ trong nhà cư sĩ (như trên).

49. Khạc nhổ, đại tiểu tiện trên rau cỏ tươi, trừ khi có bệnh (như trên).

50.  Khạc nhổ, đại tiểu tiện trong dòng nước, trừ khi có bệnh (như trên).

51. Đứng đại tiểu tiện, trừ khi có bệnh (như trên).

52. Nói pháp cho người lật ngược y nghe, trừ khi có bệnh (như trên).

53. Nói pháp cho người quấn áo ở cổ, trừ khi có bệnh (như trên).

54. Nói pháp cho người trùm đầu, trừ khi có bệnh (như trên).

55. Nói pháp cho người quấn đầu, trừ khi có bệnh (như trên).

56. Nói pháp cho người chống nạnh, trừ khi có bệnh (như trên).

57. Nói pháp cho người mang dép da nghe, trừ khi có bệnh (như trên).

58. Nói pháp cho người mang guốc gỗ, trừ khi có bệnh (như trên).

59. Nói pháp cho người đi xe, trừ khi có bệnh (như trên).

60. Ngủ nghỉ trong tháp Phật, trừ khi giữ gìn (như trên).

61. Cất chứa của cải trong tháp Phật, trừ khi vì  bền chắc (như trên).

62. Mang dép da vào  tháp Phật (như trên).

63. Cầm dép da vào trong tháp (như trên).

64. Mang dép da đi nhiễu quanh tháp (như trên).

65. Mang giày Phú La vào trong tháp (như trên).

66. Cầm giày Phú La vào trong tháp (như trên).

67. Ngồi ăn dưới tháp lưu lại thức ăn làm dơ đất (như trên).

68. Khiêng thây chết đi qua dưới tháp (như trên).

69. Chôn thây chết dưới tháp (như trên).

70. Đốt thây chết ở dưới tháp (như trên).

71. Trước tháp đốt thây chết (như trên).

72. Bốn phía tháp  đốt thây chết khiến hơi hôi bay vào (như trên).

73. Đem áo giường của người chết đi qua dưới tháp (như trên).

74. Đại tiển tiện dưới tháp (như trên).

75. Đại tiểu tiện trước tháp (như trên).

76. Quanh bốn phía tháp đại tiểu tiện, khiến hơi hôi bay vào (như trên).

77. Mang tượng Phật đến chỗ đại tiểu tiện (như trên).

78. Dưới tháp nhăn cành dương (như trên).

79. Trước tháp nhăn cành dương (như trên).

80. Bốn phía tháp nhăn cành dương (như trên).

81. Dưới tháp hỉ nhổ (như trên).

 82. Trước tháp  hỉ nhổ (như trên).

 83. Bốn phía tháp hỉ nhổ (như trên).

84. Duỗi chân trước tháp (như trên).

85.Để Phật ở tầng dưới, mình ở tầng trên, cần phải học (như trên).

86. Nói pháp cho người ngồi mình đứng, trừ khi có bệnh (như trên).

87. Nói pháp cho người nằm mình ngồi, trừ khi có bệnh (như trên).

88. Nói pháp cho người ngồi mình đứng, trừ khi có bệnh (như trên).

89. Nói pháp cho người ngồi chỗ cao mình ngồi chỗ thấp, trừ khi có bệnh (như trên).

90.  Nói pháp cho người đi ở trước mình đi ở sau, trừ khi có bệnh (như trên).

91. Nói pháp cho người đi kinh hành ở chỗ cao, trừ khi có bệnh (như trên).

92. Nói pháp cho người ở giữa đường, còn mình ở bên đường, trừ khi có bệnh (như trên).

93. Nắm tay nhau khi đi đường (như trên).

94. Ở trên cây cao quá đầu người, trừ khi có nhân duyên (như trên).

95. Túi đãi đựng bát máng ở đầu gậy để trên vai  quảy đi (như trên).

96. Nói pháp cho người cầm gậy, trừ khi có bệnh (như trên).

97. Nói pháp cho người cầm kiếm, trừ khi có bệnh (như trên).

98. Nói pháp cho người cầm mâu, trừ khi có bệnh (như trên).

99.  Nói pháp cho người cầm dao, trừ khi có bệnh (như trên).

100. Nói pháp cho người cầm dù che, trừ khi có bệnh (như trên).

Chư Tỳ kheo phạm 100 pháp nầy gọi là Đột kiết la nghĩa là ác tác. Nếu không theo luật tạng để sám hối. Căn cứ vào trong kinh, sẽ bị đoạ vào địa ngục Đẳng Hoạt. 

Sư vỗ xích nói:

Này các tỳ kheo! Tôi nay hỏi các vị, bảy pháp diệt tránh đã thọ trì, các vị phải nghe cho kỹ nên như thật mà đáp.

1. Đáng cho làm pháp hiện tiền Tỳ Ni thì nên cho làm pháp hiện tiền Tỳ Ni, trong giới này các vị có phạm không? (Nếu có phạm thì đáp có, còn không thì nói không).

Bảy pháp này hay diệt trừ bốn loại tranh cãi, nếu đáng cho làm pháp hiện tiền mà không cho, trái lại cho pháp khác để diệt trừ, thì phạm tội trái pháp Tỳ Ni gọi là Đột Kiết La. Đó là không đáng cho mà cho, nay hỏi thì liền nên đáp rằng có phạm. Nếu tuy có sự tranh cãi nổi lên, thì lúc ấy thích nghi với pháp, không trái lời Phật. Nay hỏi mới có thể đáp rằng không. Lại nữa, việc tranh cãi vốn là không, pháp này vốn không làm, nay hỏi cũng nên đáp không. Do việc trả lời của pháp ấy bất đồng với các giới khác, cho nên lược bàn luận để thêm vào. Nếu muốn nói rộng, tự phải xem rõ trong toàn bộ luật mới được.

2. Nên cho làm pháp ức niệm Tỳ Ni, nên cho làm pháp ức niệm Tỳ Ni (như trước).

3. Đáng cho làm pháp bất si Tỳ Ni, nên cho làm pháp bất si Tỳ Ni (như trước).

4. Đáng cho làm pháp tự nói tội, nên cho làm pháp tự nói tội để trị (như trước).

5. Đáng cho làm pháp nhiều người nói tội, nên cho làm pháp nhiều người nói tội.

6. Đáng cho làm pháp tìm tướng tội, nên cho làm pháp tìm tướng tội (như trước).

7. Đáng cho làm pháp như cỏ che đất, nên cho làm pháp như cỏ che đất (như trước).

Các tỳ kheo, nếu có bốn loại tranh cãi khởi lên, liền xứng lượng trong bảy pháp này nên cho diệt trừ, nếu đáng cho mà không cho, không đáng cho mà cho, việc tranh cãi cũng không diệt trừ, đó gọi là phạm.

Sư vỗ xích nói:

Này các  tỳ kheo! Tất cả nội tướng của giới pháp cụ túc đều đã xét rõ, lại có đại thừa đưa ra thất nghịch, bây giờ cần phải hỏi lại.

Nói thất nghịch là:

1. Làm thân Phật ra máu là tội ác đại nghịch cực trọng. Các vị có phạm tội nầy không  (có không như thật mà đáp).

Nếu dùng ác tâm sân hận mà hủy hoại tất cả Phật tượng, xá lợi, tháp miếu, cho đến kinh điển đại thừa, xem  Phật là cừu thù thì cũng đồng với tội này, phải nên ngăn.

2. Giết cha là tội ác đại nghịch cực trọng (giống như trước).

3. Giết mẹ là tội ác đại nghịch cực trọng (giống như trước).

4. Giết hòa thượng là tội ác đại nghịch cực trọng (giống như trước).

5. Giết A xà lê là tội ác đại nghịch cực trọng (giống như trước).

6. Phá Yết Ma Chuyển Pháp Luân Tăng là tội ác đại nghịch cực trọng (giống như trước).

7. Giết thánh nhơn là tội ác đại nghịch cực trọng. Vậy các vị có phạm tội này không? (giống như trước).

Những tội này đã không phạm thì nên tạm lui ra.

Trên tòa thẫm xét như thế xong, nếu có ai phạm thì thư ký ghi chú mỗi việc cho rõ ràng. Còn pháp nghi kêu gọi ra vào thì đều giống y như cách sám hối của đàn thứ hai trong đó đã nói rõ. Nếu xét về giới tướng của sáu chúng khác thì cương mục ghi chép thêm ở phần sau. Cũng như trước khi thẫm xét xong, sau đó mới hỏi về bảy pháp ngăn. Cho đến khi nhóm sau cùng hỏi xong, bèn đứng qua một bên, đánh kiền chùy tập chúng. Người phát lồ trước hết vào nhà sám hối, tất cả phải y theo nhóm kế mà phân định. Còn việc thọ sai các giới sư, khuôn phép tác bạch cũng giống như đàn thứ hai không khác, đợi người thọ sai đi ra rồi, dẫn lễ bảo đại chúng hướng về phía trước xếp hàng làm lễ, quì gối.

 Sư vỗ xích nói:

Các vị từ trước đến giờ nên nhận biết  lời tôi nói, cứ theo sự thật mà phát lồ, đã ở trong tỳ kheo cụ túc giới kính cẩn giữ (đã ở nơi tỳ kheo ni cụ túc giới, trong Thức Xoa Ma Na học ba pháp, trong mười giới của Sa Di, Sa Di Ni, trong năm giới của Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, cung kính giữ gìn. Nhưng bảy chúng này tùy theo thời gian đó hễ có đến thì hỏi thêm vào).

Tội thất nghịch mà đại thừa đã ngăn, nếu không phạm thì đó là pháp chơn tịnh. Tôi nay y theo lời các vị nói mà trình lên hòa thượng, để tất cả đều được tiến thọ đại giới Bồ tát. Vì thế các vị phải chí thành cầu xin chư Phật, Bồ tát dùng ánh từ quang nhiếp soi, chứng minh công đức sám hối, khiến cho tội lỗi từ vô thỉ kiếp đến nay, ba chướng tám khổ đều được trừ sạch. Ngay từ giây phút này đến tột đời vị lai, bốn hoằng hai lợi, tất cả đều được viên mãn. Nguyện hóa đồng thể chúng sanh, cùng thành vô thượng chánh giác. Bây giờ tôi vì các vị đốt hương cử bài kệ, các vị theo âm giọng tôi như pháp mà sám hối, mọi người đều xưng pháp danh, xưng xong rồi, sư đứng dậy niêm hương, trở về chỗ chắp tay, cử bài kệ rằng:

                   Con xưa đã tạo bao ác nghiệp

                   Đều do vô thỉ tham sân si

                   Từ thân miệng ý mà sanh ra

          Tất cả tội chướng đều sám hối

Nay trước Phật đài cầu sám hối

Tất cả tội căn đều sám hối.

Thẫm giới công đức thù thắng hạnh

Vô biên thắng phước giai hồi hướng

Phổ hiền trầm nịch chư hữu tình

Tốc vãng vô lượng quang Phật sát

Thập phương tam thế nhất thiết Phật

Chư tôn Bồ Tát ma ha tát

Ma ha bát nhã ba la mật.

Nếu trong chúng khi thẫm xét có phạm tội trọng căn bổn và liên quan đến bảy tội nghịch, thì phải nên răn nhắc riêng.

Sư vỗ xích nói:

Trước giờ trong khi xét hỏi, có phạm giá giới gì, đây là tội ác cực trọng, phá hoại đạo khí, kinh luật đều ngăn cấm hẳn, nhơn tình khó mà dung tha. Tôi nay cũng nói với các vị như thế, lại phải trình lên phương trượng hòa thượng, nhất định phải tuân theo luật dạy mà bảo các vị, nhưng ngày mai các vị không được cùng với đại chúng thanh tịnh, mà mong cầu sự trao nhận.

Dẫn lễ nói:

Các tỳ kheo đứng dậy, nghe tiếng khánh lạy tạ ba lạy, vén y, lạy rồi thâu tọa cụ, vấn tấn, phân ban, người nghinh thỉnh ra ban đưa sư về liêu.

Như thường lệ đảnh lễ đưa sư về liêu rồi, sau đó lại đến giới đường cùng nhau lễ tạ các vị dẫn lễ sư ba lạy, dẫn lễ liền bảo các vị sám hối, bèn cùng nhau đi lên chánh điện suốt đêm lạy Phật.

Lời phụ:

Xét cương mục giới tướng của tỳ kheo ni, nếu có ni chúng, liền ở văn trước, xưng thập phương thường trụ tam bảo xong, tất cả đều hỏi rõ:

Sư vỗ xích nói:

Các tỳ kheo ni, bây giờ tôi hỏi các vị về tám pháp Ba la di đã thọ trì. Vậy các vị nên nghe cho kỹ, như thật mà đáp.

1. Giới phạm bất tịnh hạnh, thọ pháp dâm dục. Các vị ở trong giới này có phạm không? (có không nên như thật mà đáp).

Tuy nhiên những giới tướng đã hỏi trong đây không thể rộng chép nguyên văn, e rằng người đông kéo dài thời gian, chỉ tóm lấy cương mục mà hỏi thôi.

2. Giới dùng tâm trộm lấy vật có chủ không cho, các vị trong giới này có phạm không? (có không như thật mà đáp).

3. Giới cố đoạn mạng người, khen ngợi cho chết, khuyên vui cho chết (như trên).

4. Thật không hiểu biết, tự nói ta đã đắc pháp thượng nhơn (như trước).

5. Giới cùng với người nam có tâm nhiễm ô, hai thân xúc chạm nhau (như trước).

6. Giới cùng với người nam có tâm nhiễm ô, đứng nói cùng ước hẹn tám việc (như trước).

7. Giới biết tỳ kheo ni phạm Ba la di mà che giấu (như trước).

8. Giới thuận theo tỳ kheo bị cử (như trước).

Nếu tỳ kheo ni phạm tám pháp này, thì không được cùng với tỳ kheo ni khác Bố Tát ở chung, đó gọi là phá căn bản, nên như pháp như luật, như lời Phật dạy, dùng pháp bạch Tứ Yết Ma mà diệt tẩn, thối thất không có phần đạo quả, không được tiến thọ đại giới Bồ tát. Căn cứ theo kinh Mục Liên vấn chép: “Người phạm tội Ba la di sẽ bị đọa trong địa ngục Diệm Nhiệt.

Sư vỗ xích nói:

Các Tỳ kheo ni, bây giờ tôi hỏi các vị 17 pháp Tăng Già Bà Thi Sa đã thọ, các vị nên như thật mà đáp.

1. Giới qua lại làm mai mối, trong giới này các vị có phạm không? (có không nên như thật mà đáp).

2. Hủy báng không căn cứ (như trước).

3. Đem chút ít phần khác hủy báng (như trước).

4. Đến chỗ quan thưa kiện (như trước).

5. Biết giặc nữ mà độ (như trước).

6. Giải tội cho ni (như trước).

7. Một mình lội qua  nước, ngủ qua đêm trong thôn (như trước).

8. Nhiễm tâm nhận thức ăn (như trước).

9. Khuyên nhận thức ăn có tâm nhiễm ô (như trước).

10. Phương tiện phá Tăng (như trước).

11. Giúp phá Tăng (như trước).

12. Làm dơ nhà người, trái lời can ngăn (như trước).

13. Ác tánh trái lời can ngăn (như trước).

14. Thân nhau che giấu tội (như trước).

15. Dạy  ở chung  che giấu tội (như trước).

16. Sân bỏ tam bảo (như trước).

17. Ưa tranh cải không nhớ (như trước).

Nếu tỳ kheo ni trong 17 pháp này, tùy theo phạm mỗi một tội thì nên ở trong hai bộ Tăng, cho nửa tháng hành pháp Ma Na Đỏa, hành Ma Na Đỏa xong thì cho xuất tội. Phải ở trong hai bộ Tăng 40 người mà xuất tội Tỳ kheo ni này. Nếu thiếu một người không đủ số 40, thì tội Tỳ kheo ni  này không được khỏi. Giả như không vâng theo luật để sám hối xuất tội, thì căn cứ vào kinh dạy người nầy sẽ đọa vào địa ngục Hào Khiếu.

Sư vỗ xích bảo:

Các Tỳ kheo ni, bây giờ tôi hỏi các vị về 30 pháp Ni Tát Kỳ Ba Dật Đề đã thọ trì, các vị nên nghe cho kỹ rồi như thật mà đáp.

1. Chứa y dư hơn mười ngày, các vị ở trong giới này có phạm không? (có không nên như thật mà đáp).

2. Lìa mỗi một y mà ngủ ở chỗ khác (như trước).

3. Không đủ y, chứa hơn một tháng (như trước).

4. Theo người không phải bà con xin y (như trước).

5. Thí chủ cúng nhiều y thọ nhận nên biết đủ (như trước).

6. Không nhận tùy ý thỉnh tham xin y tốt (như trước).

7. Không nhận tùy ý thỉnh tham đòi y tốt (như trước).

8. Quá sáu lần đòi y (như trước).

9. Tự tay nhận vàng bạc vật báu (như trước).

10. Mua bán báu vật các thứ (như trước).

11. Mua bán các thứ (như trước).

12. Bát trám dưới năm lần không chảy lại xin bát mới (như trước).

13. Tự xin chỉ sợi dệt y (như trước).

14. Không nhận tùy ý thỉnh tham bảo dệt y tốt (như trước).

15. Trước cho y sau giận tức đoạt y lại (như trước).

16. Chứa thuốc quá bảy ngày (như trước).

17. Quá chứa y cúng gấp (như trước).

18. Biết là vật của Tăng mà tự cầu về mình (như trước).

19. Xin vật nầy lại đòi cái kia (như trước).

20. Đem tiền tạo pháp đường đổi ra để làm  y (như trước).

21. Đem phần tiền cúng  thức ăn cho Tăng đổi để may y (như trước).

22. Đem tiền làm  phòng may y (như trước).

23. Đem tiền làm  nhà may y (như trước).

24. Chứa nhiều bát (như trước).

25. Chứa nhiều đồ tốt (như trước).

26. Không cho bệnh y (như trước).

27. Lấy phi thời y nhận làm thời y (như trước).

28. Trước cho y sau giận bực lấy lại (như trước).

29. Xin y dày quá giá tiền (như trước).

30. Xin y tơ tằm quá giá tiền (như trước).

Nếu tỳ kheo ni phạm 30 pháp này, nên xả trong Tăng, chúng nhiều người, một người không được biệt thỉnh xả. Giả như  không y theo luật xả và sám hối, căn cứ trong kinh dạy người nầy sẽ bị đọa vào địa ngục Phú Chướng, cho nên gọi là Xả Đọa.

Sư vỗ xích nói.

Nầy các tỳ kheo ni! Tôi nay hỏi các vị  về 178 giới Ba Dật Đề đã thọ, các vị nên nghe cho kỹ như thật mà đáp.

1. Biết mà nói dối, các vị ở trong giới này có phạm không? (có không nên như thật mà đáp).

2. Hủy nhục bằng giống loài (như trước).

3. Nói hai lưỡi (như trước.

4. Cùng ngủ chung nhà với người nam (như trước).

5. Cùng với người nữ chưa thọ đại giới ngủ qua đêm quá hạn (như trước).

6. Cùng tụng kinh với bạch y (như trước).

7. Đến người thế tục nói tội người (như trước).

8. . Đến người thế tục nói chứng đạo (như trước).

9. Nói pháp cho người nam nghe quá lời (như trước).

10. Tự tay đào đất (như trước).

11. Phá hoại thôn của quỉ thần (như trước).

12. Nói lời khác làm não người (như trước).

13. Hiềm mắng tri sự (như trước).

14. Trải tọa cụ không cất (như trước).

15. Khách trải tọa cụ không cất (như trước).

16. Ỷ lớn xúc não (như trước).

17. Ỷ mạnh đuổi ra (như trước).

18. Tự do ngồi trên giường (như trước).

19. Biết nước có trùng rưới trên bùn (như trước).

20. Phòng lớn lợp nhiều lớp (như trước).

21. Không bệnh xin thức ăn nhiều (như trước).

22. Ăn riêng chúng (như trước).

23. Thọ quá ba bát (như trước).

24. Ăn phi thời (như trước).

25. Ăn thức ăn thừa cách đêm (như trước).

26. Ăn  thức ăn không nhận (như trước).

27. Thọ thỉnh không báo lại (như trước).

28. Trong nhà ăn cố nán ngồi (như trước).

29. Trong nhà ăn ngồi chỗ khuất (như trước).

30. Cùng với người nam ngồi ở chỗ đất trống (như trước).

31. Hứa cho thức ăn đuổi đi (như trước).

32. Thọ thuốc quá hạn (như trước).

33. Đến xem quân trận (như trước).

34. Ở trong quân quá đêm (như trước).

35. Ngủ trong quân xem trận (như trước).

36. Uống rượu (như trước).

37. Đùa giỡn trong nước (như trước).

38. Thọc lét nhau (như trước).

39. Không nhận lời can ngăn.

40. Dọa sợ tỳ kheo ni khác (như trước).

41. Không bệnh tắm nhiều lần (như trước).

42. Đốt lửa ở chỗ đất trống (như trước).

43. Giấu y vật của Ni (như trước).

44. Cho y liền lấy lại đắp (như trước).

45. Được y mới không nhuộm (như trước).

46. Cố đoạn mạng chúng sanh (như trước).

47. Uống dùng nước có trùng (như trước).

48. Cố xúc não ni khác (như trước).

49. Che tội thô của người khác (như trước).

50. Khơi sự tranh cải (như trước).

51. Biết bạn giặc mà hẹn cùng đi (như trước).

52. Tà kiến sanh phỉ báng (như trước).

53. Tà kiến cho ngủ đêm (như trước).

54. Dung túng người bị đuổi (như trước).

55. Vấn nạn người trì luật (như trước).

56. Chê trách tỳ ni (như trước).

57. Không chú ý nghe pháp (như trước).

58. Phỉ báng theo thân hậu (như trước).

59. Không gởi dục đứng dậy đi (như trước).

60. Gởi dục rồi sau trách (như trước).

61. Khiêu khích kia đây (như trước).

62. Sân đánh Ni khác (như trước).

63. Sân tát Ni khác (như trước).

64. Không căn cứ sân báng (như trước).

65. Vào quá ngạch cửa cung vua (như trước).

66. Tay cầm bảo vật (như trước).

67. Phi thời vào làng (như trước).

68. Làm giường quá lượng (như trước).

69. Dùng bông Đâu La Miên làm giường nằm (như trước).

70. Ăn các thứ tỏi (như trước).

71. Cao lông ba chỗ (như trước).

72. Dùng nước sạch quá hạn (như trước).

73. Lấy hồ dao làm nam căn (như trước).

74. Hai Ni cùng vỗ nhau (như trước).

75. Bưng nước và quạt (như trước).

76. Xin thóc sống (như trước).

77. Đại tiện trên cỏ tươi (như trước).

78. Đổ đồ dơ không quán xét (như trước).

79. Đi xem kỷ nhạc (như trước).

80. Cùng đứng với người nam ở chỗ khuất (như trước).

81. Cùng với người nam đi vào chỗ khuất (như trước).

82. Cùng với người nam kề tai nói (như trước).

83. Ngồi không nói bỏ đi (như trước).

84. Không nói liền ngồi (như trước).

85. Không nói trải ngọa cụ ngủ (như trước).

86. Cùng với người nam vào nhà (như trước).

87. Không xét rõ lời tiếp nhận (như trước).

88. Việc nhỏ mà thề (như trước).

89. Đấm ngực khóc la (như trước).

90. Không bệnh cùng nằm (như trước).

91. Nằm chung chăn nệm (như trước).

92. Hỏi kinh quầy rối (như trước).

93. Không chăm sóc bệnh (như trước).

94. An cư sân đuổi (như trước).

95. Ba thời du hành (như trước).

96. An cư xong ở (như trước).

97. Đi ngoài khu vực (như trước).

98. Đi trong khu vực (như trước).

99. Thân cận người tục (như trước).

100. Đến xem cung vua (như trước).

101. Lộ thân tắm sông (như trước).

102. May áo tắm mưa quá lượng (như trước).

103. May y quá số ngày (như trước).

104. Quá ngày không coi sóc y (như trước).

105. Cản chúng y cho Tăng (như trước).

106. Mặc y không hỏi chủ (như trước).

107. Đem y cho ngoại đạo (như trước).

108. Ngăn Tăng chia y (như trước).

109. Bảo Tăng không xả y Ca Hi Na (như trước).

110. Ngăn Ni không xả y Ca Hi Na (như trước).

111. Không cho diệt tranh cãi (như trước).

112. Đem thức ăn cho ngoại đạo (như trước).

113. Đi sứ cho bạch y (như trước).

114. Tự se chỉ (như trước).

115. Ngồi giường thế tục (như trước).

116. Ngủ nhà thế tục, ra đi  không nói (như trước).

117. Tụng tập chú thuật (như trước).

118. Dạy người chú thuật (như trước).

119. Độ người nữ có thai thọ cụ (như trước).

120. Độ người nữ cho con bú (như trước).

121. Tuổi không đủ 20 cho thọ cụ (như trước).

122. Không cho 2 năm học giới tuổi đủ liền cho thọ cụ (như trước).

123. Cho học giới nhưng không cho sáu pháp tuổi đủ thọ cụ (như trước).

124. Học pháp đã mãn, Tăng không cho liền trái lời cho thọ (như trước).

125. Thiếu 12 năm cho thọ cụ (như trước).

126. Học giới đủ năm, không bạch cho thọ cụ (như trước).

127. Cho người xấu thọ cụ (như trước).

128. Độ người phi pháp  (như trước).

129. Không hai năm y chỉ (như trước).

130. Trái lời Tăng trao giới cụ túc (như trước).

131. Tuổi hạ chưa đủ, trái lời Tăng trao cụ giới (như trước).

132. Tuổi hạ đủ, trái lời Tăng trao cụ giới (như trước).

133. Tăng không cho thọ cụ liền phỉ báng Tăng (như trước).

134. Người tục ngăn lại trao cho cụ giới (như trước).

135. Độ người tục có sự kính ái giận bực  (như trước).

136. Không cho học nữ thọ giới (như trước).

137. Nhận y rồi không trao cho cụ giới (như trước).

138. Không đủ 12 tháng trao cho người cụ giới (như trước).

139. Trao giới rồi, cách đêm mới đến trong Tăng (như trước).

140. Không bệnh trái lời không cầu giáo thọ (như trước).

141. Mỗi nửa tháng trái lời không cầu giáo thọ (như trước).

142. Hạ xong không cầu tự tứ (như trước).

143. An cư nơi không có Tăng (như trước).

144. Vào chùa không bạch (như trước).

145. Mắng nhiếc tỳ kheo (như trước).

146. Ưa đấu tranh, sân hận mắng tỳ kheo ni (như trước).

147. Phá ung nhọt không bạch chúng (như trước).

148. Ăn đủ rồi sau lại ăn (như trước).

149. Sanh lòng tật đố với thầy (như trước).

150. Dùng hương thoa thân (như trước).

151. Dùng dầu mè thoa thân (như trước).

152. Bảo cô Ni thoa thân (như trước).

153. Bảo Thức Xoa Ma Na thoa thân (như trước).

154. Bảo Sa di ni thoa thân (như trước).

155. Bảo phụ nữ thoa thân (như trước).

156. Chứa nhiều y (như trước).

157. Chứa đồ trang sức của phụ nữ (như trước).

158. Mang giày da, cầm dù đi (như trước).

159. Không bệnh cỡi ngựa đi (như trước).

160. Không đủ y vào trong thôn (như trước).

161. Chiều tối đến nhà thế tục (như trước).

162. Chiều tối mở cửa chùa (như trước).

163. Chiều tối đi không dặn (như trước).

164. Chống trái không an cư (như trước).

165. Cho người thường đại tiểu tiện rịn chảy thọ cụ (như trước).

166. Cho người hai hình thọ cụ (như trước).

167. Biết hai đường họp một cho thọ cụ (như trước).

168. Biết người thiếu nợ, bệnh cho thọ cụ (như trước).

169. Học kỷ thuật để nuôi thân (như trước).

170. Dạy người kỷ thuật thế tục (như trước).

171. Bị đuổi không đi (như trước).

172. Không cầu mà hỏi nghĩa (như trước).

173. Muốn não loạn (như trước).

174. Xây tháp trong Tăng già lam (như trước).

175. Khinh mạn tỳ kheo mới thọ giới (như trước).

176. Vì đẹp lắc thân đi (như trước).

177. Trang sức cho phụ nữ (như trước).

178.  Bảo ngoại đạo nữ thoa thân (như trước).

Tỳ kheo ni phạm 178 pháp này, nếu không y vào luật sám hối. Căn cứ trong kinh sẽ đọa vào địa ngục Bát Hàn Bát Nhiệt, cho nên gọi là Đọa.

Sư vỗ xích nói.

Nầy các tỳ kheo ni, bây giờ tôi nay hỏi các vị về tám pháp Ba La Đề Xá Ni, các vị nên nghe cho kỹ như thật mà đáp.

1. Không bệnh xin chất tô, các vị ở trong giới này có phạm không? (có không nên như thật mà đáp).

2. Không bệnh xin dầu (như trước).

3. Không bệnh xin mật (như trước).

4. Không bệnh xin đường phèn (như trước).

5. Không bệnh xin sữa (như trước).

6. Không bệnh xin lạc (như trước).

7. Không bệnh xin cá (như trước).

8. Không bệnh xin thịt (như trước).

Tỳ kheo ni phạm tám  pháp này nên hướng đến tỳ kheo ni khác sám hối, tôi phạm tội đáng trách, việc không nên làm. Đó gọi là pháp  hối quá, nếu không y vào trong luật đến tỳ kheo ni khác sám hối. Căn cứ trong kinh sẽ bị đọa vào địa ngục Hắc Thằng.

Nầy các tỳ kheo ni, bây giờ tôi nay hỏi các vị về 100 pháp chúng học, các vị nên nghe cho kỹ như thật mà đáp.

Nội y không chỉnh tề, các vị trong giới nầy có phạm không? (có không như thật mà đáp)

Mặc năm y không ngay (như trước).

Lật ngược y đi (như trước).

Lật ngược y ngồi (như trước).

Áo quấn cổ đi (như trước).

Áo quấn cổ ngồi nhà (như trước).

Che đầu đi  vào nhà (như trước).

Che đầu ngồi nhà (như trước).

Nhún nhảy đi vào nhà (như trước).

Nhún nhảy đi vào nhà ngồi (như trước).

Ngồi chồm hổm trong nhà (như trước).

Chống nạnh vào nhà (như trước).

Chống nạnh ngồi (như trước).

Thân uốn éo đi vào nhà (như trước).

Thân uốn éo vào ngồi nhà (như trước).

Vẫy tay đi vào nhà (như trước).

Vẫy tay vào ngồi nhà (như trước).

Che kín thân đi (như trước).

Che kín thân ngồi nhà (như trước).

Liếc ngó hai bên đi (như trước).

Ngồi nhà liếc ngó hai bên (như trước).

Nói khẽ vào nhà (như trước).

Nói khẽ ngồi nhà (như trước).

Đùa cười đi vào nhà (như trước).

Vào ngồi nhà đùa cười (như trước).

Để ý thọ thực (như trước).

Nhận thức ăn vừa ngang bát (như trước).

Nhận canh vừa ngang bát (như trước).

Cơm canh đều nhau (như trước).

Ăn theo thứ tự (như trước).

Moi giữa bát ăn (như trước).

Không bệnh đòi cơm canh (như trước).

Lấy cơm đậy canh (như trước).

Nhìn bát tỳ kheo Ni ngồi gần (như trước).

Để ý nơi bát ăn (như trước).

Vắt cơm lớn miếng (như trước).

Há miệng lớn chờ cơm (như trước).

Ngậm cơm nói chuyện (như trước).

Ném cơm vào miệng (như trước).

Làm rơi thức ăn (như trước).

Độn thức ăn bên má (như trước).

Nhai cơm ra tiếng (như trước).

Húp thức ăn ra tiếng (như trước).

Liếm thức ăn (như trước).

Rảy tay khi ăn (như trước).

Nhặt cơm rơi ăn (như trước).

Tay dơ cầm bát đựng thức ăn (như trước).

Đổ nước rửa bát trong nhà (như trước).

Đại tiểu tiện trên cỏ tươi (như trước).

Đại tiểu tiện trong nước (như trước).

Đứng đại tiểu tiện (như trước).

Thuyết pháp cho người lật ngược y (như trước).

Thuyết pháp cho người áo quấn cổ (như trước).

Thuyết pháp cho người che đầu (như trước).

Thuyết pháp cho người quấn (khăn) trên đầu (như trước).

Thuyết pháp cho người chống nạnh (như trước).

Thuyết pháp cho người mang giày (như trước).

Thuyết pháp cho người mang guốc (như trước).

Thuyết pháp cho người đi xe (như trước).

Ngủ trong tháp Phật (như trước).

Cất vật trong tháp (như trước).

Mang dép da vào tháp (như trước).

Cầm dép da vào tháp (như trước).

Mang dép da nhiễu tháp (như trước).

Mang giày vào tháp (như trước).

Cầm giày vào tháp (như trước).

Ngồi ăn dưới tháp để lại thức ăn (như trước).

Khiêng thây chết ngang qua tháp (như trước).

Chôn thây chết dưới tháp (như trước).

Thiêu thây chết dưới tháp (như trước).

Hướng tháp đốt thây chết (như trước).

Bốn phía tháp đốt thây chết (như trước).

Mang y áo, giường người chết đi qua dưới tháp (như trước).

Dưới tháp đại tiểu tiện (như trước).

Hướng tháp đại tiểu tiện (như trước).

Quanh bốn phía tháp đại tiểu tiện (như trước).

Mang ảnh, tượng Phật đến chỗ đại tiểu tiện (như trước).

Dưới tháp xỉa răng (như trước).

Hướng tháp xỉa răng (như trước).

Bốn phía tháp xỉa răng (như trước).

Dưới tháp khạc nhổ (như trước).

Hướng tháp khạc nhổ (như trước).

Bốn phía tháp khạc nhổ (như trước).

Hướng tháp duỗi chân (như trước).

Để tháp Phật ở phòng thấp (như trước).

Đứng thuyết pháp cho người ngồi nghe (như trước).

Ngồi thuyết pháp cho người nằm nghe (như trước).

Ngồi một bên thuyết pháp cho người ngồi ở giữa nghe (như trước).

Ngồi ở chỗ thấp thuyết pháp cho người ngồi ở chỗ cao nghe (như trước).

Đi ở sau thuyết pháp cho người đi ở trước nghe (như trước).

Thuyết pháp cho người đi kinh hành ở chỗ cao (như trước).

Thuyết pháp cho người đi đường chính nghe (như trước).

Nắm tay nhau đi ở trên đường (như trước).

Leo cây (như trước).

Quảy túi đựng bát ở đầu gậy (như trước).

Thuyết pháp cho người cầm gậy (như trước).

Thuyết pháp cho người cầm kiếm (như trước).

Thuyết pháp cho người cầm mâu (như trước).

Thuyết pháp cho người cầm dao (như trước).

100.Thuyết pháp cho người cầm dù lộng (như trước).

Nếu tỳ kheo ni phạm 100 pháp nầy gọi là Đột Kiết La. Gọi Đột Kiết nghĩa  là Ác tác. Nếu không nương vào trong luật dạy mà sám hối, căn cứ trong kinh đã chép người nầy sẽ bọ đoạ trong địa ngục Đẳng Hoạt.

Sư vỗ xích nói :

Các tỳ kheo ni tôi nay hỏi các vị về bảy pháp Diệt Tránh đã thọ trì, các vị nên nghe cho kỷ phải như thật mà đáp.

1.  Đáng cho làm pháp hiện tiền tỳ ni, nên cho làm pháp hiện tiền tỳ ni (các vị trong giới nầy có phạm không)

2.  Đáng cho làm pháp ức niệm tỳ ni, nên cho làm pháp ức niệm tỳ ni (như trước).

3. Đáng cho làm pháp bất si tỳ ni, nên cho làm pháp bất si tỳ ni (như trước).

4. Đáng cho làm pháp tự nói tội để trị, nên cho làm pháp tự nói tội để trị (như trước).

5. Đáng cho làm pháp nhiều người nói tội, nên cho làm pháp nhiều người nói tội (như trước).

6. Đáng cho làm pháp tìm tướng tội, nên cho làm pháp tìm tướng tội (như trước).

7. Đáng cho làm pháp như cỏ che đất, nên cho làm pháp như cỏ che đất (như trước).

Tỳ kheo ni nếu có bốn loại tranh cải khởi lên, liền phải suy xét trong bảy pháp nầy mà trừ diệt. Nếu đáng cho mà không cho, không dáng cho mà cho, tranh cải không thôi đó gọi là phạm.

Ba trăm bốn mươi tám giới tướng này, tất cả đều đã hỏi xong, còn đại thừa thất nghịch, như trong nghi thức tỳ kheo, việc xét hỏi vẫn không khác.

Lời phụ:

Thẫm xét cương mục giới tướng Thức Xoa Ma Na, nếu có chúng Thức Xoa Ma Na, thì ở văn trước xưng thập phương thường trụ tam bảo xong rồi, tất cả phải hỏi đầy đủ.

Sư vỗ xích nói.

Nầy các vị Thức Xoa Ma Na, bây giờ tôi hỏi sáu pháp  mà các vị đã thọ trì, các vị nên nghe cho kỹ, như thật mà đáp.

1. Không được phạm bất tịnh hạnh, nếu phạm chẳng phải là người nữ dòng họ Thích. Nếu cùng với người nam có tâm nhiễm ô xúc chạm nhau, thì bị khuyết giới, nên cho học giới lại. Trong giới này các vị có phạm không? (Có không nên như thật mà đáp).

2. Không được trộm cắp, nếu phạm chẳng phải là người nữ dòng họ Thích. Nếu lấy dưới năm tiền, thì giới bị khuyết, nên cho học giới lại (như trước).

3. Không được cố đoạn mạng người, nếu phạm chẳng phải là người nữ dòng họ Thích. Nếu đoạn mạng súc sanh không thể biến hình thì giới bị khuyết nên cho học giới lại (như trước).

4. Không được đại vọng ngữ, nếu phạm chẳng phải là người nữ dòng họ Thích. Nếu trong chúng cố tiểu vọng ngữ thì giới bị khuyết, nên cho học giới lại (như trước).

5. Không được ăn phi thời, nếu ăn phi thời thì giới bị khuyết nên cho học giới lại (như trước).

6. Không được uống rượu, nếu uống rượu thì giới bị khuyết, nên cho học giới lại (như trước).

Nói về  đại thừa thất giá thì căn cứ như trước. Nếu có Sa di, Sa di ni và hai chúng tại gia thì giới tướng như thường không nêu ra, còn các chúng thẫm xét ở đây, chỉ thay đổi những người đã thọ trì giới tướng, còn căn cứ từ trước sau đều giống nhau, không nói  lại nữa.

3. KHAI THỊ KHỔ HẠNH.

Đêm trước đã hỏi giới giá xong, sáng sớm Yết Ma sư cùng các dẫn lễ, thư ký đi đến phương trượng đảnh lễ hòa thượng, trình lại tội đơn nhiễm tịnh đã thẫm xét, đợi hòa thượng xem xong, nếu không phạm thì lễ tạ mà lui, còn những ai có phạm giới trọng thất giá, thì liền bảo đến phương trượng. Nên noi theo hai thừa kinh luật, khai đạo cho người phạm ấy, hoặc khiến dốc lòng tham cứu, thật ngộ vô sanh, hoặc khiến kết đàn lễ sám cầu thấy hảo tướng, hoặc khiến chuyên tu tịnh độ đới nghiệp vãng sanh. Đây chẳng phải là tỳ ni yết ma tác pháp có thể sám hối, cũng chẳng phải người có lòng tin cạn cợt, dụng công vài lần ít ỏi mà có thể diệt trừ. Ba loại sám pháp như trên, gọi là căn cứ theo lời dạy mà nghiệm tâm, thế gọi là chơn thật sám hối.

Nếu tạm thời khởi tâm niệm thế tục, không biết có khổ, không cầu giải thoát, thì dù cho 1000 đức Phật ra đời cũng khó mà sám trừ. Khai pháp như thế xong, đại chúng đảnh lễ mà lui. Ngay sau giờ  ngọ, dẫn lễ bảo chúng cầu giới thanh tịnh không phạm, tải tòa ở tịnh đường, đánh kiền chùy tập chúng, vẫn bảo chín người nghinh thỉnh hòa thượng lễ nghi như thường, đến giới đường thăng tòa xong, hai vị dẫn lễ trải tọa cụ hướng đến tòa lạy ba lạy, quì gối chắp tay bạch rằng:

Mỗ giáp chúng con hôm qua đã vâng từ mệnh hòa thượng ủy thác sai bảo, đem các tỳ kheo… (nếu có chúng khác thì thêm vào) đến chỗ yết ma sư, thẫm xét giới, vấn già nạn, còn các ngôn từ hồi sáng sớm đã lược nêu lại như trên. Giờ đây xin khải bạch.

Đại hòa thượng chọn thời gian thiết đàn, đến tòa ban bố giới pháp, khiến cho họ đi ra khỏi cửa thảo am, để vào được bên trong kho báu, làm đệ tử chơn chánh của Phật, tiếp nối làm hưng thạnh chánh pháp hóa độ chúng sanh. Nay trước lúc chưa thọ giới, lại có hạnh nào nên làm, pháp nào nên làm, cúi xin dũ lòng chỉ bày, để tiện bề phụng hành, cúi xin chứng giám lòng cầu xin tha thiết chí thành không thôi.

(Bạch xong lạy ba lạy, phân ban bảo rằng)

Dâng hương, trở lại chỗ cũ, cùng nhau hướng về phía trước xếp hàng, trải tọa cụ, nghe tiếng khánh chí thành lạy ba lạy, vén y, lại xong quì gối, chắp tay. Hòa thượng vỗ xích bảo:

Này các tỳ kheo… (nếu có chúng khác thì thêm vào), hồi tối tôi sai các dẫn lễ, đem các vị đến chỗ thầy Xà lê, xét hỏi giới giá nhằm để chọn lựa pháp khí, may thay cho các vị, những giới căn bản còn nguyên vẹn, giá nghịch không phạm, ngõ hầu có thể sáng sớm ngày mai trao nhận đại giới Bồ tát. Thọ giới vốn là việc không phải dễ, nhưng thực hành thì lại càng khó hơn. Cho nên tôi nay bảo các vị trước hết phải có tâm chí rộng lớn, thệ nguyện phải bền chắc.

Cho nên kinh Phạm Võng chép: “Nếu có người Phật tử nào đem tâm ưa thích, trước hết học đại thừa oai nghi kinh luật, rộng mở hiểu nghĩa, thấy hàng tân học Bồ tát, dù có từ 100 dặm, ngàn dặm đến cầu đại thừa kinh luật nên như pháp mà nói tất cả khổ hạnh hoặc đốt thân, đốt cánh tay, đốt ngón tay, nếu không đốt thân, cánh tay, ngón tay cúng dường chư Phật, thì chẳng phải Bồ tát xuất gia”. Đây là nói rõ vì pháp mà thiêu thân để cúng dường chư Phật, thì cùng với các chúng sanh cùng một lòng bi ngưỡng với tâm nguyện rất cao tột, trên cầu Phật đạo.

Lại nói rằng: “Cho đến loài cọp, chó sói, sư tử đói, tất cả loài ngạ quỉ đều nên xả thân, thịt, tay chân mà cúng dường”. Đây là nói rõ việc cứu khổ, bỏ thân để đãi ngạ quỉ, súc sanh, thì cùng với một từ lực với chư Phật Như lai, đó là tâm nguyện cao tột, dưới hóa độ chúng sanh vậy.

Nói rằng người đốt thân cúng Phật. Chư Phật  Như lai đầy đủ trăm ngàn tướng tốt, muôn đức trang nghiêm, tự nhiên khởi tâm đáng kính, đáng quay về nương tựa, do cái chơn tâm cầu pháp. Đây thật là điều mà người có thể làm mà nên làm vậy.

Nói rằng người xả thân cứu các ngạ quỉ súc sanh. Loài ngạ quỉ ác thú có vô lượng xấu ác, hình thù dị thường, đã chẳng thể nương gần, cũng làm cho tâm khiếp sợ phát sanh. Đây là điều mà người khó làm mà không thể làm vậy.

Nếu có hàng tân học Bồ tát, đem tâm chí thành từ xa đến cầu thọ đại thừa giới pháp, người làm luật sư đại thừa phải nên trước vì lời khổ hạnh này, rồi sau đó mới cho thọ giới. Vì sao? Bởi vì đức Như lai xem xét sâu xa căn cơ của chúng sanh, do tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay đều lấy cái ngã ái làm gốc, rất khó đoạn trừ, phàm muốn phát tâm bồ đề hành hạnh Bồ tát, tất phải dùng bố thí làm đầu thì các hạnh khác mới thành.

Cho nên đối với mọi người mới cầu giới Bồ tát, trước hết phải khiến thực hành hạnh khổ này, để thử nghiệm căn cơ đại thừa, khiến cho phát quyết định đại thừa chơn chí. Bởi do tâm địa pháp môn, mười vô tận giới, như lý mà chứng, xứng tánh mà tu, nếu chấp ngã chấp tướng, không thể tin pháp này, diệt thọ thủ chứng, cũng chẳng có chỗ gieo giống. Chỉ khi nào không có ngã nhơn, lòng đại từ bi sâu xa, đầy đủ thệ nguyện rộng lớn, nhẫn trí hiện tiền thì mới có thể thọ trì tu chứng. Nhưng khổ hạnh này cũng gọi là pháp hạnh, do vì cái lý tánh tịnh ấy là con mắt của pháp, mà pháp vốn không có các ngã nên lìa các ngã cấu, pháp vốn không có các chúng sanh nên lìa các chúng sanh, pháp không có tham ái nên lìa tham ái cấu, pháp không có xả thí nên lìa xả thí cấu. Nếu chấp pháp có ngã nhơn tham ái, thì không thể nội xả ngoại xả, và xả bỏ hết tất cả. Do vì biết pháp vốn không có ngã nhơn tham ái, vậy thì có thể thực hành hạnh tài thí, pháp thí, bình đẳng thí. Cho nên tam hiền lấy việc xả tâm làm đầu, thập địa tu bố thí làm trước. Vì thế đức Thích Ca Thế tôn ta, ở trong vô lượng kiếp tu Bồ tát hạnh, hiến thân cho cọp đói, cắt thịt nuôi chim ưng, khoét thân ngàn lỗ để đốt đèn, móc hai tròng mắt để trị bệnh cho người, nhẫn đến tay chân, gan mật, đầu lưỡi tủy não, quốc thành thê tử, voi ngựa bảy báu… tất cả đều đem sức nhẫn nhục để xả thí, thành tựu được Đàn Ba la mật vô ngã, để cầu vô thượng diệu đạo, cứu độ pháp giới hữu tình. Quán đại địa trong tam thiên đại thiên thế giới, dù là một chỗ nhỏ dù như hạt cải, đều là nhân địa xả thân mạng của Như lai, một Phật như thế, tất cả Phật đều vậy. Các vị tuy nói rằng sơ tâm nhập đạo, nhưng sức nhẫn chưa đủ, nhơn pháp chưa không, đã phát tâm bồ đề cầu thọ Bồ tát giới, ở đại nguyện này nhất định phải thận trọng bền giữ, hạnh khổ này thận trọng phải thực hành, mỗi người các vị chớ nên sanh lòng sợ sệt. Nếu ai hay do đây mà không trụ tướng thanh tịnh xả tâm, hoặc đốt một nén hương, thắp một ngọn đèn cúng dường mười phương chư Phật. Ở trong chỗ mong cầu ấy, không vì phước báu trời người, quyền thừa tiểu quả. Chỉ nguyện được vô thượng bồ đề, cứu vớt tất cả pháp giới hữu tình ở nơi đời sau, như Dược Vương đốt thân, nhị tổ chặt cánh tay. Cho đến làm vô lượng vô biên hạnh khổ khó làm để cầu pháp lợi sanh, thảy đều từ ngày hôm nay thọ giới Bồ tát, dù làm nhân duyên nhỏ, đốt cây một nén nhang thắp ngọn đèn, trước sau rốt ráo tròn đầy Đàn Ba la mật.

Hôm nay, các vị nghe tôi nói, nếu tâm ý còn do dự, lòng sanh nghi ngờ lui sụt, thì chẳng phải là người Phật tử chơn chánh, cũng chẳng phải căn tánh đại thừa. Như tôi không vâng theo lời Phật dạy, trước hết làm việc khai đạo, trao giới đại thừa cho các vị, thì chẳng phải là luật sư đại thừa, lại còn phạm tội nói đảo lộn kinh giới luật nữa vậy. Hôm nay, tôi nương theo lời Phật dạy nói cho các vị nghe, các vị phải  nghe cho kỹ (vỗ xích một tiếng).

Lại hỏi các vị: Các vị mỗi người có thể tin hiểu vâng làm không?

Đại chúng đáp: Y giáo phụng hành.

Hòa thượng nói: Đã hay y giáo phụng hành, thì đợi các vị đốt đèn đốt nhang cúng Phật phát nguyện xong, hôm sau lên đàn lãnh thọ giới pháp Bồ tát.

Dẫn lễ nói:

Các tỳ kheo cùng nhau đứng dậy, nghe tiếng khánh lạy tạ ba lạy, vén y lạy xong, thâu tọa cụ, phân ban, người dẫn đầu đưa hòa thượng trở về phương trượng.

Đưa hòa thượng về phương trượng xong, kế tiếp trở về giới đường lễ tạ các vị dẫn lễ sư, sau đó đều lui về chỗ để nghỉ ngơi trong chốc lát.

Dẫn lễ lại đem người cầu thọ giới Bồ tát, cùng nhau đi đến đại điện thắp nhang đèn xong, theo pháp thường mà đảnh lễ khắp tất cả chư Phật Bồ tát, phát mười lời nguyện rộng lớn mà lui. Nhẫn đến đầu hôm vẫn bảo cùng nhau lên đại điện, suốt đêm đảnh lễ đức hiệu Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, để cầu gia hộ, nguyện vào Phật thừa.

————————————————————-

 

9.5Tam Đàn truyền giới
1007026
Total Visit : 905338