Chủ nhật, ngày 11 tháng 4 năm 2021
"Sống không giận, không hờn, không oán trách. Sống mỉm cười với thử thách chông gai. Sống vươn lên theo kịp ánh ban mai. Sống an hòa với mọi người chung sống"

Tam đàn Truyền giới Chánh phạm – Quyển 4

Tam đàn Truyền giới Chánh phạm – Quyển 4 Sách:

TAM ĐÀN TRUYỀN GIỚI CHÁNH PHẠM

QUYỂN 4.

Núi Bảo Hoa Kim Lăng ty luật sa môn Độc Thể soạn.

 

ĐÀN ĐẦU TRUYỀN THỌ SA DI GIỚI CHÁNH PHẠM.

Ban đầu sai tịnh nhơn, quét rưới pháp đường ở giữa trải một tòa, thiết lập hai tòa ở bên cạnh, dâng cúng hương hoa đèn đuốc, đến thời đánh kiền chùy tập chúng, các sư dẫn lễ thống lãnh người cầu thọ giới, mỗi người cầm hai y năm điều và bảy điều, quải bát, cầm tọa cụ đến giới đường. Lấy y đang cầm để trên bàn, lạy dẫn lễ sư ba lạy, hai sư dẫn lễ đem hai người đến thỉnh hai thầy, đến rồi lạy ba lạy, kế đến cùng hai thầy nghinh thỉnh hòa thượng. Nhưng chỉ cần chín người là đủ, một người cầm hương, nghi lễ như thường, nghinh thỉnh đến pháp đường, duy na cử bài kệ tập chúng. Nếu người cầu giới ít, hoặc gặp những duyên khác thì không hẳn hạn cuộc ở bài kệ, mà chỉ đơn cử Vân Lai Tập Bồ Tát ba lần cũng được. Hòa thượng thăng tòa niệm hương, lại cử hương tán, hai sư hướng trước hòa thượng sửa đủ oai nghi, lạy ba lạy, đứng dậy xong trở về bổn vị mà đứng, đợi chúng thỉnh ba lần xong mới đến chỗ ngồi.

Dẫn lễ nói:

Thượng hương, trở về chỗ cũ, các thiện nam nữ cùng nhau hướng về phía trước xếp hàng, nghe tiếng khánh, chí thành lạy ba lạy, lạy xong quỳ gối chắp tay.

THỨ NHẤT LÀ NÓI RÕ VIỆC THỈNH SƯ.

Dẫn lễ chắp tay bạch rằng:

Nói đến việc luyện vàng đúc vật mới sanh ra hình, tự ban đầu có khuôn phép, người hành trì có lễ, thì tất cả đều làm vị thầy nghiêm trang. Nếu không khởi tâm ân trọng, thì nào có thể cảm phát được giới tăng thượng. Nhất định phải rõ khuôn pháp để chỉ bày kẻ phàm phu ngu muội. Nay vì các vị cung thỉnh mổ giáp… đường thượng mổ giáp… luật sư, làm hòa thượng trao giới cho các vị. Lời thỉnh sư lẽ ra các vị tự bạch, nhưng e rằng chưa thể làm được, nên tôi nay dạy cho các vị. Các vị nên xưng pháp danh của mình, xưng xong còn những ngôn từ khác đều phải nói theo tôi.

THỨ HAI PHẦN CHÁNH THỨC THỈNH SƯ.

Dẫn lễ nói rằng:

Đại đức một lòng nghĩ, chúng con mổ giáp… nay thỉnh đại đức làm hòa thượng truyền giới sa di, cúi xin đại đức vì con làm hòa thượng truyền giới sa di. Con nương theo đại đức, được thọ giới sa di, xin thương xót chúng con.

Thỉnh như thế ba lần xong, cúi đầu ba lần, hoặc thỉnh ba lần xong cúi đầu một lần cũng được.

Hòa thượng nói:

Thiện nam tử! Các vị đã ba lần ân cần thỉnh tôi làm hòa thượng truyền giới sa di, các vị nên nương theo lời tôi dạy mà tu hành, cẩn thận chớ có bung lung.

Đại chúng đáp: Y giáo phụng hành.

Dẫn lễ nói, các vị đều đứng dậy, nghe tiếng khánh chí thành lạy ba lạy, lạy xong quỳ gối chắp tay.

Nay vì các vị cung thỉnh hiện tiền hai thầy làm A Xà Lê truyền mười giới Sa Di. Lời thỉnh sư lẽ ra các vị tự bạch, nhưng e rằng các vị chưa thể làm được nên tôi hướng dẫn, các vị đều phải xưng pháp danh của chính mình, ngoài ra còn những ngôn từ khác đều phải nói theo tôi.

Đại đức một lòng nghĩ con mỗ giáp… nay thỉnh Đại đức A Xà Lê truyền mười giới Sa Di, cúi xin đại đức làm A Xà Lê truyền mười giới Sa Di cho chúng con. Con nương theo đại đức, được thọ giới Sa Di, xin thương xót chúng con. Lễ bái như trước xong rồi giới sư bạch rằng:

Các thiện nam tử, các vị đã ân cần khải thỉnh, tôi nay sẽ làm A Xà Lê truyền mười giời Sa Di cho các vị, vậy các vị hãy tinh tấn chớ có bung lung. Đáp rằng y giáo phụng hành.

Dẫn lễ bảo:

Các vị cùng đứng dây nghe tiếng khánh lạy ba lạy, lạy xong qùi gối chắp tay.

THỨ BA GIỚI SƯ KHAI ĐẠO.

 Hòa thượng vỗ xích nói:

- Các thiện nam tử? Tôi nay nhận làm Hòa thượng, truyền mười giới sa di cho các vị. Nếu tôi có nói ra điều chi các vị phải nghe cho kỹ.

Kinh Niết Bàn chép: “Tại gia chật hẹp giống như lao ngục, tất cả những phiền não đều do đây mà sanh. Xuất gia rộng rãi như hư không, tất  cả pháp lành do đó mà tăng trưởng”. Tuy là như thế, nếu như không có tịnh giới, các thiện công đức đều không được sanh. Thế cho nên trì tịnh giới, lấy việc cắt tóc nhuộm y làm tướng, thọ trì cấm giới làm tánh.

 Cho nên luận Tát Bà Đa chép: “Người mới thọ giới sánh cùng với Phật”. Do đây mà suy, xuất gia Tăng Ni thật là nhóm họp các pháp lành. Các vị đã xuất gia rồi nên gọi là Sa Di, nhưng tên gọi của Sa Di có hai loại.

Một là hình đồng Sa Di.

Hai là pháp đồng Sa Di.

Tiếng Phạn gọi là Sa Di, Trung Hoa dịch là Cần Tức. Nghĩa là hay siêng tu các pháp lành, sách tấn tâm hành. Nếu chỉ cạo tóc nhuộm y, chưa đượm nhuần giới phẩm, thì gọi là hình đồng Sa Di. Khi thọ trì mười giới mới gọi là pháp đồng Sa Di. Nay thì sắp lên bảo đàn thọ đại giới cụ túc, theo lý trước hết nên thọ mười giới Sa Di. Nhưng muốn thọ mười giới Sa Di thanh tịnh, thì việc đầu tiên phải cầu nguyện ngôi tam bảo để làm nơi nương tựa cao quý. Kế đến là cúi xin vạn linh làm chủ trấn oai nghiêm, cùng một lúc đứng dậy, theo âm thanh ta chí thành làm lễ, một lòng khải thỉnh, đều xưng pháp danh, xưng xong hòa thượng đứng dậy cử bài niệm hương. Hai thầy dẫn lễ đồng âm xướng, vận tưởng tam bảo, tất cả đều cung kính.

THỨ TƯ NÓI RÕ VIỆC THỈNH THÁNH.

Hương hoa thỉnh, đệ tử mỗ giáp… nhất tâm phụng thỉnh Ta bà giáo chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Tây phương tiếp dẫn A Di Đà Phật, Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, tận hư không biến pháp giới nhất thiết chư Phật. Duy nguyện không trái bổn thệ, từ quang nhiếp chiếu, chứng minh thọ giới.

Thỉnh như vậy rồi, đại chúng đồng lễ bái, đứng dậy chắp tay, khởi quán đứng dậy, cho đến thỉnh ba lần, lạy ba lạy. Sau căn cứ theo đây.

Hương hoa nghinh, hương hoa thỉnh, đệ tử mỗ giáp…. một lòng phụng thỉnh đại tiểu hai thừa Tỳ Ni luật tạng, năm thiên ba tụ giải thoát mộc xoa, 12 phần kinh quyền thật giáo điển, ly dục chơn tịnh, Pháp bảo sâu xa, kính cẩn dốc lòng, quy mạng như trước.

Hương hoa nghinh, hương hoa thỉnh, đệ tử mỗ giáp… nhất tâm phụng thỉnh, Quan Âm, Thế Chí, Văn Thù Phổ Hiền, thanh tịnh hải chúng, chư đại Bồ tát, hội thượng luật tạng, tôn giả Ưu Ba Ly, Tây Thiên Đông Độ, nhiều đời tổ sư, truyền Nam Sơn tông, các đại luật sư, chư tổ sư làm hưng thạnh tông Luật ở Trung hoa, Huệ Văn Hinh Công đại hoà thượng. Sau đây lại tiếp tục lên tòa, hòa thượng đắc giới bổn sư húy như trước. Cúi mong không trái lời thề, từ quang nhiếp chiếu, chứng minh thọ giới.

Hương hoa nghinh, hương hoa thỉnh, mỗ giáp… nhất tâm phụng thỉnh.

Ngôn từ của một lời thỉnh này chỉ nói hai chữ pháp danh, không đồng với thỉnh tam bảo ở trên nói rằng: Đệ tử… Tuy là trong trời rồng quỷ thần đâu chẳng phải Bồ tát quyền hiện, nhưng nay lấy dấu vết mà luận bàn chứ không luận về gốc vậy.

Quang Minh hội thượng, Ký Vị Chư Thiên, Phạm Thích Tứ Vương, Thiên Long Bát Bộ, Già Lam Thổ Địa, Hộ Giới Thần Vương, Kim Cang Lực Sĩ, U Hiển Linh Kỳ. Cúi mong không trái bổn thệ, cùng giáng pháp diên, giám đàn hộ giới. Giống như trước.

Ba lần thỉnh đầy đủ xong, hòa thượng cùng với hai thầy, mỗi vị đến chỗ ngồi mà ngồi. Dẫn lễ gọi người thọ giới lễ một lễ, lại quỳ gối chắp tay, một lòng nghe kỹ.

THỨ NĂM SÁM HỐI.

Hòa thượng vỗ xích hỏi:

Này các thiện nam tử! Vừa rồi tôi vì các vị cung thỉnh tam bảo giáng lâm đạo tràng chứng minh thọ giới. Giờ này, tam bảo quang minh rạng rỡ tại nơi này. Những ác nghiệp mà các vị đã tạo ở hiện đời, các vị, các vị đã biết đã nhớ, trong Yết Ma đường tối đêm qua đã từng sám hối, từ vô thỉ cho đến đời nay đã tạo ra những tội lỗi nhỏ, tình thức hôn mê, không tự giác tri. Chỉ có, chư Phật Bồ tát thấy biết hết, các ngươi nên năm vóc kiền thành, giữ vững một lòng, cầu ai sám hối. Lời sám hối lẽ ra các vị nên tự bày tỏ, nhưng e rằng các vị chưa thể nói được. Nên tôi nay dạy các vị, nếu tôi nói ra lời gì, các vị hãy nói theo tôi.

Bài kệ sau hòa thượng cử lên hai câu, dẫn lễ hướng dẫn người cầu thọ giới nói hai câu, mỗi khi đọc hai câu xong thì xá một xá, lời nói phải rõ ràng. Ba lần cầu xin sám hối:

Đệ tử chúng con

Kể từ vô thỉ

Cho đến ngày nay

Hủy hoại Tam bảo

Làm nhất xiển đề

Huỷ báng đại thừa

Đoạn Bát Nhã học

Giết hại cha mẹ

Làm Phật ra máu

Nhiễm ô già lam

Phá phạm hạnh người

Đốt kinh phá pháp

Trộm dùng Tăng vật

Khởi các tà kiến

Chê  không nhân quả

Nương gần bạn ác

Trái với thầy hiền

Tự làm dạy người

Thấy nghe tùy hỉ

Những tội như vậy

Vô lượng vô biên

Cho nên ngày nay

Sanh đại tàm quí

Chi thành phát lộ

Cầu ai sám hối

Cúi xin Tam bảo

Từ bi nhiếp thọ

Phóng ánh sáng sạch

Soi chạm chân con

Các ác tiêu diệt

Ba chướng trừ sạch

Trở lại nguồn tâm

Rốt ráo thanh tịnh

Nam Mô Phổ Hiền Vương Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).

Đây chính là rộng nêu bày sám hối, nếu thời gian eo hẹp, thì dùng đại kinh bốn câu, nếu có tàm quí thì dù bốn câu tội nghiệp cũng tiêu trừ, như không biết tàm quí thì cho dù rộng tuyên cũng vô ích.

Con xưa đã tạo ra bao ác nghiệp

Đều bởi vô thỉ tham sân si

Từ thân miệng ý phát sanh ra

Tất cả tội chướng nay đều sám hối

Nay trước Phật đài xin sám hối

Tất cả tội căn đều sám hối.

Nam Mô Phổ Hiền Vương Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).

Hòa thượng vỗ xích nói:

Các thiện nam tử, tôi nay sám hối cho các vị đã xong, A Xà Lê sẽ vì các vị  hỏi già nạn để tác bạch yết ma.

THỨ SÁU VẤN NẠN.

Yết ma sư vỗ thủ xích bảo:

Các thiện nam tử, những già nạn đã nói căn cứ theo luật chế rõ. Lại có 13 trọng nạn, 16 tội khinh giá. Nếu không có vướng vào già nạn, thì mới là món đồ hoàn toàn trong sạch, có thể thọ đại giới tỳ kheo. Lúc này không kịp để hỏi rõ, đợi lúc đăng đàn viên cụ, sẽ có giáo thọ sư ở chỗ khuất sẽ hỏi các vị. Các vị phải như thật mà đáp, nếu không đáp như thật thì không đắc giới. Tôi nay lại hỏi chung các vị để tiện việc thọ mười giới Sa Di, đây cũng chính là căn bổn của cụ giới tỳ kheo. Thiện nam tử! Các vị trong hiện đời này có phạm trọng nạn khinh giá không?

 Đáp: Không.

THỨ BẢY TAM QUI.

Yết ma sư vỗ xích bảo:

Các thiện nam tử đã không có già nạn, vừa đối trước tam bảo sám hối đã xong, thì có thể được thọ giới. Tôi nay vì vị tuyên tam qui yết ma, khiến cho các vị cảm phát giới thể. Vậy giờ nầy mỗi người nên xưng pháp danh của chính mình, còn những ngôn từ khác thì đều nói theo tôi.

Con pháp danh là mỗ giáp… suốt đời thọ qui y Phật, suốt đời qui y Pháp, suốt đời qui y Tăng. Con nay theo Phật xuất gia, ngài mỗ giáp… làm hòa thượng, Như lai chí chơn đẳng chánh giác là Thế tôn của con, cúi xin thương xót.

Đại chúng nói theo lời của giới sư ba lần, xá ba xá.

THỨ TÁM TAM KẾT.

Yết ma sư vỗ xích bảo:

Trước giờ xướng tam qui, đã thể nạp ở nơi tâm. Giờ nầy lại xướng thêm tam kết, đắc pháp viên mãn, gọi là ba phen Yết Ma. Vậy giờ nầy mỗi người nên xưng pháp danh của chính mình, còn những ngôn từ khác thì đều nói theo tôi.

Con pháp danh là mỗ giáp…  suốt đời quy y Phật rồi, qui y Pháp rồi, qui y Tăng rồi. Con nay theo Phật xuất gia rồi, ngài mỗ giáp… làm hòa thượng, Như lai chí chơn đẳng chánh giác là thế tôn của con, cúi xin thương xót.

Đại chúng nói theo lời của giới sư ba lần, xá ba xá.

THỨ CHÍN NÓI VỀ GIỚI TƯỚNG.

Hòa thượng vỗ xích bảo:

Này các thiện nam tử! A Xà Lê vì các vị tuyên tam qui yết ma xong, các vị đã đắc giới thể Sa Di thanh tịnh. Giờ nầy tôi sẽ vì các vị nói mười giới tướng, khiến cho các vị biết giới tướng mà giữ gìn, nhưng muốn hộ trì các thể ấy thì mỗi người đều phải xưng pháp danh của mình.

Giới thứ nhất: Suốt đời thọ giới không sát sanh, là giới pháp Sa Di, các vị có thể giữ được không?  Đáp: Giữ được.

Giới thứ hai: Suốt đời không trộm cướp (như trên).

Giới thứ ba:  Suốt đời không dâm dục (như trên).

Giới thứ tư: Suốt đời không nói dối (như trên).

Giới thứ năm: Suốt đời không uống rượu (như trên).

Giới thứ sáu: Suốt đời không đeo tràng hoa, không thoa ướp nước hoa vào mình (như trên).

Giới thứ bảy: Suốt đời không ca múa hát xướng và cố đi xem nghe (như trên).

Giới thứ tám: Suốt đời không ngồi giường cao rộng (như trên).

Giới thứ chín: Suốt đời không ăn phi thời (như trên).

Giới thứ mười: Suốt đời không cầm giữ sanh tượng vàng bạc báu vật (như trên).

Ba lần tuyên đọc giới tướng xong, dẫn lễ bảo các Sa Di xá một xá, sau đó đứng dậy, chia ra hai bên, dạy mỗi người trì chú, trước hết đắp y năm điều, kế đến là y bảy điều. Trải tọa cụ xong, chắp tay lạy ba lạy. Nếu đại chúng đông không trải tọa cụ cũng được.

Cử câu:

Nam Mô Bảo Đàn Hoa Bồ Tát Ma Ha Tát (xưng 3 lần).

Đại chúng cùng hòa, lạy ba lạy xong, quì xuống chắp tay lắng nghe.

THỨ MƯỜI NGHE LỜI DẠY BẢO.

Hòa thượng vỗ xích bảo:

Này các Sa Di! Tôi đã trao cho các vị mười giới tướng xong. Còn những pháp nghi thọ cụ, các điều căn bản mà người xuất gia phải học, và các môn hành tướng oai nghi, đã có Giáo Thọ A Xà Lê sẽ phân biệt  rõ ràng cho các vị. Nay tôi riêng nêu bày cho các vị năm đức mười số, ý chí vui theo đạo, y giáo mà vâng làm, nhằm tăng trưởng trí tuệ thành tựu biện tài, giáo hóa chúng sanh khiến vào Phật đạo.

Nói về năm đức thì trong kinh Phước Điền chép:

Phát tâm xuất gia vì mến đạo pháp.

Hủy bỏ hình đẹp để mặc pháp phục.

Cắt đứt thân ái không còn thân sơ.

Hủy bỏ thân mạng tôn sùng mối đạo.

Chí cầu đại thừa vì để độ người.

Nói mười số trong luật Tăng Kỳ chép:

Tất cả chúng sanh đều nương theo ăn uống.

Danh sắc.

Đau ngứa tưởng.

Bốn đế.

Năm ấm.

Sáu nhập.

Bảy giác chi.

Tám chánh đạo.

Chín cõi cúng chúng sanh ở.

Mười nhất thiết nhập.

Đây là pháp của Sa di, nên như thế, các vị đã nghe biết xong, phải luôn ghi nhớ chớ lãng quên. Sau này lên trên bảo đàn, ở trước tòa các giới sư, bạch tứ yết ma thọ đại tỳ kheo giới, được dự vào trong số tam bảo, nối thạnh dòng Phật, lợi mình lợi người, công đức khó nghĩ bàn. Các vị nên nương theo đây mà siêng năng tu giới định huệ, cố gắng học kinh luật luận, khiến cho Phật pháp được thường trụ mãi ở thế gian, khiến cho chúng sanh chánh tín không dứt. Vậy các vị cẩn thận chớ lười biếng, chớ buông lung thân tâm, hay như thế mà y giáo phụng hành không? Đáp: Y giáo phụng hành.

Hòa thượng vỗ xích, đứng dậy chắp tay hồi hướng rằng:

Đem công đức thọ giới này cứu giúp khắp các chúng sanh, trang nghiêm tịnh độ, đại chúng đồng âm niệm Phật hồi hướng.

Đại chúng đồng âm niệm Phật, các Sa Di lạy ba lạy đứng dậy, chia ra hai bên. Hai thầy xuống tòa, đảnh lễ hòa thượng ba lạy xong, kế đến hòa thượng cũng xuống tòa, lễ Phật ba lạy, thầy duy na cử bài kệ hồi hướng, đại chúng hòa theo.

Thọ giới công đức thù thắng hạnh

Vô biên thắng phước giai hồi hướng

Phổ nguyện trầm nịch chư chúng sanh

Tốc năng vô lượng quang Phật sát

Thập phương tam thế nhất thiết Phật

Chư tôn Bồ tát ma ha tát

Ma ha bát nhã ba la mật.

Sơ đàn truyền giới chánh phạm.

 

NHỊ ĐÀN TRUYỀN THỌ GIỚI TỲ KHEO CHÁNH PHẠM.

Người đăng đàn thọ cụ giới, phải biết đầu mối phát khởi, ý nghĩa đồng dị  kiến đàn của hai quốc độ. Xét trong bộ Yếu Lãm chép: “Thế tôn ở Kỳ Viên, bấy giờ tỳ kheo Lâu Chí thỉnh Phật lập đàn để thọ giới tỳ kheo, Phật sai các tỳ kheo ở khuôn viên bên ngoài gốc đông nam viện, thiết lập một giới đàn làm công sở để Tăng thọ cụ, pháp sắc đã ban,  các tinh xá già lam trong 16 nước lớn đều tuân theo kiến lập”. Từ đó về sau đăng đàn thọ cụ, Tăng giới pháp cả ba điều nầy nhất nhất đều như Phật chế. Nếu có chút sai trái thì người thọ không đắc giới. Tăng lâm đàn phạm tội, lời nói xuất phát từ kim khẩu, pháp chép ở long tạng, phàm thánh đồng một quỉ tắc, lại càng không có cách khác.

 Cõi này có khởi nguyên từ sơ tổ Đạo Tuyên ở Nam Sơn. Tổ vào năm thứ hai niên hiệu Càn Đức đời vua Đường Cao Tông ở chùa Tịnh Nghiệp, dựng thạch giới đàn, y theo luật mà trao nhận. Bấy giờ các luật ty đều ngưỡng mộ khuôn phép, sùng chuộng thực hành, Nam Sơn luật tông do đó mà đại chấn, nhiều đời nối tiếp là bởi có duyên do.

Nay các chùa như Chiêu Khánh Tiên Lâm ở Lâm An, Khai Nguyên ở Cô Tô… tích xưa vẫn còn. Lại nữa, vào năm đầu niên hiệu Bảo Lịch đời Đường và năm thứ hai niên hiệu Đại Trang, cũng đã từng mở rộng kiến lập giới đàn Phương Đẳng. Năm thứ hai, niên hiệu Tường Phù đời nhà Tống kiến lập giới đàn Cam Lộ có cả thảy 72 chỗ. Phương Đẳng có nghĩa là gọi rộng lớn bình đẳng cùng khắp. Cam Lộ là lấy ví dụ Niết bàn. Ý nói giới là duyên do để vào được cửa Niết bàn. Từ quả mà nêu danh, nhưng đàn của giới đàn tự đồng với tỳ kheo, giới mà được trao chỉ là đại thừa, cho nên ngay trong đàn thượng cung thờ Phật Bồ tát, 5 vị thánh sư. Lúc nhiễu đàn nương vào hai vị A Xà Lê, từ hạ đến trung, từ trung đến thượng, ba vị thầy  lễ Phật Bồ Tát xong theo phía Tây mà vào phía sau Phật, lại từ phía nam Phật mà trải tòa ở bên cạnh. Nương vào chỗ ngồi của hòa thượng  giới sư, mà hai thầy A Xà Lê đứng ở hai bên. Nghi tắc thì khác xa với tỳ kheo thọ cụ, số thập sư Tăng đã đủ, già nạn trọng khinh, đại thừa thì không bị hạn cuộc bởi căn duyên thiếu kém. Chỉ cần phát đại tâm lãnh nạp thì liền đắc giới, cho nên giới đàn đặt tên là Phương Đẳng hay Cam Lộ.

Than ôi, luật học phế bỏ việc đăng đàn đã lâu, nay núi Bảo Hoa Kim Lăng nương theo phép tắc mà kiến lập giới đàn, tác trì tiếp nối tông Nam Sơn, nếu chẳng ảnh hưởng tinh thần đại thừa soạn nghi thì không bàn việc hư thật, thế  nên trước hết nói rõ đầu mối việc đồng dị của giới đàn.  Thí như cương giới của Tăng thọ cụ, không thể không có đàn giới mà có căn cứ vậy.

Còn giới đàn hiện tại, không cùng thể với đại giới, vì để phân biệt riêng một giới. Trong luật chép: “Bấy giờ các tỳ kheo khi có việc cần làm phép yết ma, phải có chúng bốn vị tỳ kheo, chúng năm vị tỳ kheo, chúng mười tỳ kheo, chúng 20 tỳ kheo yết ma. Trong lúc nhóm họp rất là mỏi mệt, Phật dạy cho kết giới trường”.

Tỳ Ni Mẫu Luận chép: “Bên ngoài lại không kết đại giới, mà kết ngay tiểu giới cũng không được thọ cụ”. Các bộ luật Ngũ Phần… cũng vậy.

Thế nên, khi có tỳ kheo vâng theo lời Phật dạy thọ trì giới  nhất định phải kết giới trường, kế đến kết đại giới, ở trong giới trường kiến lập một giới đàn, trên thiết tòa thập sư, người không có phận sự thì dùng rào ngăn, tuỳ theo lúc tác pháp xong thì mở ra. Ngay trong ngày thọ cụ túc giới phải quét sạch xung quanh đàn, treo tràng phan bảo cái, anh lạc ở giữa đàn. Thiết lập một hương án, đốt đèn đuốc, cúng dường hoa hương, còn người chưa thọ cụ túc giới thì không cho nhóm họp để nghe, lại thiết lập một nơi ở chỗ khuất để vấn nạn.

THỨ NHẤT LÀ NÓI RÕ PHÁP THỈNH  SƯ.

Luật chép: “Đệ tử vì không có thầy giáo thọ, nên tạo những điều phi pháp”.

Phật dạy:  “Nên lập hòa thượng, đệ tử xem hòa thượng giống như cha mẹ, kính trọng chăm sóc”. Lại có tỳ kheo bệnh vì không người chăm sóc, nên không được thiện chung.

Phật dạy: “Nên lập một đệ tử, kính trọng chăm sóc nhau, khiến cho chánh pháp cửu trụ, mở rộng thêm hơn, hòa thượng phải xem đệ tử như là con”.

Luật Thiên Kiến chép: “Do vì ban đầu không thỉnh, sau là trái với lời dạy, nên Phật dạy phải thỉnh vậy”.

Luật Thập Tụng và luật Tăng Kỳ, nên bảo  người thọ giới, trước hết vào trong Tăng, dạy bảo mọi thứ, đảnh lễ dưới chân Tăng xong,  sau đó mới thỉnh.

Luận Tỳ Ni Mẫu chép: “Phật dạy: Một là hòa thượng như pháp, hai là hai thầy như pháp, ba là bảy tôn chứng sư thanh tịnh, bốn là yết ma thành tựu, năm là chúng Tăng hòa họp gởi dục. Thế gọi là thọ cụ túc giới đầy đủ vậy”.

Nay căn cứ vào các bộ luật, tập họp ý nghĩa để làm đúng nghi thức. Lúc thọ cụ giới, trước hết đánh kiền chùy, nhóm họp các tỳ kheo Tăng ở cùng một cương giới, dẫn lễ sư sai Sa Di cầu thọ cụ túc giới. Mỗi người nên mang bát, đắp hai y năm và bảy điều, cầm tọa cụ, Tăng Già Lê, theo thứ tự mà đi, đến pháp đường xong, các đại đức dẫn lễ, thu lấy những chiếc đại y của giới tử đang cầm trên tay để trên án đã được xếp đặt sẵn ở hai bên. Trước hết đảnh lễ hiện tiền Tăng tập họp ở trong đại giới, lạy ba lạy xong, đứng dậy phân ban. Kế đến dẫn lễ thống lãnh hai người cầu thọ cụ túc, tới thỉnh bảy vị tôn chứng sư, các vị cầu thọ cụ túc giới đảnh lễ ba lạy, đứng dậy hai bên. Kế đến hai vị dẫn lễ dẫn hai người thọ cụ túc giới, đến thỉnh hai thầy quang lâm xong, đợi chín vị giới sư vân tập giới tử lễ bái xong, những giới tử tiếp đến lạy hai thầy ba lạy, đứng dậy phân ban. Hai vị dẫn lễ đánh hai dẫn khánh đi trước, hướng dẫn cho tám vị mới cầu thọ cụ túc giới đến phương trượng nghinh thỉnh vị luật sư thứ nhất đến giới đường, trước hết thỉnh chín luật sư theo thứ tự lạy ba lạy. Trong thập sư nếu ngang hàng nhau thì nên lễ bái bình thường, còn như trong chín vị sư có một vị nhỏ hơn, hoặc là đệ tử, thì vị thứ nhất nên nhận lễ, không được làm rối loạn thứ tự mà trái lời Phật day. Mười vị sư làm lễ xong, đều đến tòa kết già, Sa Di cầu thọ cụ giới mới đảnh lễ vị đệ nhất luật sư.

Dẫn lễ nói:

Các Sa Di, cùng xếp hàng hướng về phía trước, trải tọa cụ nghe tiếng khánh chí thành lạy ba lạy, vén y, giữ bát, lạy xong qùi gối chắp tay.

Dẫn lễ bên phải nói:

Nói đến gương sáng trên đài gặp hình thì phản chiếu, hồng chung ở trên giá có đánh thì mới kêu. Viên thành ba tụ, cần nhờ tam sư; cử kiểm thất phi, toàn nhờ thất chứng. Nay ở trong đại Tăng, tôi vì các vị cung thỉnh thập sư, đăng đàn thọ cụ, các vị nên nhớ lấy danh tự tướng mạo của hòa thượng và hiện tiền các giới sư không được quên mất.

Vị thứ nhất thượng mỗ hạ mỗ… luật sư làm hoà thượng truyền giới cụ túc cho các vị.

Dẫn lễ bên phải bảo:

Vị thứ hai thượng mỗ hạ mỗ… luật sư, làm Yết Ma A Xà Lê truyền giới cụ túc cho các vị.

Vị dẫn lễ bên trái nói:

Vị thứ nhất thượng mỗ hạ mỗ… luật sư, làm Giáo Thọ A Xà Lê truyền giới cụ túc cho các vị.

Vị dẫn lễ bên phải nói:

Vị thứ nhất thượng mỗ hạ mỗ… luật sư, làm Tôn Chứng A Xà Lê truyền giới cụ túc cho các vị.

… Cho đến vị thứ mười. Dẫn lễ hai bên cũng nên nêu danh tướng như thế, khiến cho các vị cầu thọ cụ túc giới, ghi nhớ rõ ràng.

Các Sa Di cùng một lúc đứng dậy, nghe tiếng khánh lạy ba lạy, vén y, hộ bát, lạy xong quì gối chắp tay.

THỨ HAI PHÉP TẮC THỈNH SƯ.

Dẫn lễ bên trái nói:

Các Sa Di, tôi nay vì các vị cung thỉnh luật sư thượng mỗ hạ mỗ vì các vị làm hòa thượng truyền thọ giới cụ túc, lời thỉnh sư lẽ ra các vị nên tự nói, nhưng e rằng chưa thể, nên tôi nay hướng dẫn các vị, mỗi người đều xưng pháp danh của mình, còn các ngôn từ khác đều phải nói theo tôi.

Bạch đại đức một lòng nghĩ, chúng con Sa Di mỗ giáp, nay thỉnh đại đức làm hòa thượng đắc giới, cúi xin đại đức vì con làm vị đắc giới hòa thượng. Con nương theo đại đức được thọ giới cụ túc. Xin thương xót cho chúng con.

Chí thành cầu thỉnh ba lần như thế, ba lần cúi đầu, hoặc cúi đầu một lần cũng được.

Vị hòa thượng nói:

Này các Sa Di, các vị  đã ân cần ba lần khải thỉnh, tôi sẽ vì các vị làm đắc giới hòa thượng. Vậy tôi bảo các vị thanh tịnh chớ có buông lung.

 Đáp y giáo phụng hành.

Các Sa Di cùng đứng dậy nghe tiếng khánh lạy ba lạy, vén y, hộ bát, lạy xong rồi qùi gối chắp tay.

Vị dẫn lễ bên phải nói:

Các Sa Di, nay tôi vì các vị cung thỉnh chư vị giới sư hiện tiền làm vị Yết Ma A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Tôn Chứng A Xà Lê, lời thỉnh sư lẽ ra các vị nên tự nói, nhưng e rằng chưa thể, nên tôi nay hướng dẫn các vị, mỗi người đều xưng pháp danh của mình, còn các ngôn từ khác đều phải nói theo tôi.

Bạch đại đức một lòng nghĩ con Sa Di mỗ giáp, nay thỉnh đại đức vì chúng con làm Yết Ma, Giáo Thọ, Tôn Chứng A Xà Lê. Cúi xin đại đức vì con làm Yết Ma, Giáo Thọ, Tôn Chứng A Xà Lê, con nương theo đại đức được thọ giới cụ túc, xin thương xót cho chúng con.

Vị thầy Yết Ma nói:

Này các Sa Di, các vị đã ân cần khải thỉnh, hiện tiền các vị giới sư đây sẽ vì các vị làm Yết Ma A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Tôn Chứng A Xà Lê. Vậy tôi bảo các vị nên thanh tịnh chớ có buông lung.

 Đáp rằng: Y giáo phụng hành.

Các Sa Di cùng đứng dậy, nghe tiếng khánh lạy ba lạy, vén y, hộ bát, thâu tọa cụ, phân ban.

Các vị dẫn lễ,  vẫn đem đại y thứ tự trao lại và bảo mọi người tự giữ, thập sư đứng dậy.

Sư xướng rằng:

Nam mô Bổ Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 Vừa cử Phật hiệu,  pháp cổ vang lên, đại chúng cùng âm, xướng tụng rõ ràng. Hai vị dẫn lễ, đánh hai dẫn khánh đi trước, các tỳ kheo Tăng theo thứ lớp đi sau. Kế đến là các Sa Di cầu thọ cụ, trong những Sa Di ấy chọn ra ba vị cầm lư hương. Một vị đi trước vị giới sư thứ 10, một vị ở trước vị giới sư thứ ba, một vị ở trước vị giới sư thứ nhất, hai vị dẫn lễ hướng dẫn. Trước hết dẫn đến giới đàn, hai bên đối diện nhau, những người còn lại đi theo sau, mỗi người cứ theo đó mà đi. Khi đến xong, mỗi người đều theo thứ lớp mà đi nhiễu hai bên giới đàn cho đến ba hướng còn lại. Ba vị cầm hương đứng một hàng ở bên cạnh giới đàn. Chín vị giới sư đến trước hương án phân ra hai bên. Vị giới sư thứ nhất vừa tiến đến thì ngưng pháp cổ và dứt niệm Phật. Căn cứ theo đàn nghi từ xưa đến giờ, thì khi bắt đầu đăng đàn, có một khoa chúc thọ, bởi vì Tăng hoằng dương Phật pháp, hẳn phải nhờ ngoại hộ.

Trên hội Linh Sơn khi xưa, Thế tôn từng phó chúc rằng: “Nếu trái lời Phật dạy quên ân quốc gia, thì e rằng sự giáo hóa khó hưng thạnh”. Nay thì vẫn tuân theo phép tắc xưa, thầy duy na cử bài tán hương chúc diên, đại chúng cùng hòa.

Bảo đảnh nhiệt danh hương

Phổ biến thập phương

Kiền thành phụng hiến pháp trung vương

Đoan vị hoàng vương chúc thánh thọ

Địa cửu thiên trường

Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).

Giới sư thứ nhất cung kính niệm hương, lạy ba lạy thầm chúc nguyện đã xong, chín giới sư và giới sư thứ nhất hướng lên trên, trải đại cụ, tán lễ tam bảo. Vị sư thứ nhất xướng, chín vị giới sư còn lại hoà tán:

Cúi đầu lễ chư Phật

Tôn Pháp Thánh Hiền Tăng

Thập sư lạy một lạy, đại chúng tiếp hòa.

Nay diễn pháp tỳ Ni

Nối mạng mạch tăng già  (như trước)

Chánh pháp được cửu trụ

Quả ba thừa không dứt

(Đại chúng tiếp hòa, sư lạy xong thâu tọa cụ).

Sắp đăng đàn thanh tịnh

Nguyện chứng minh lời nói.

Chúng hòa, thập sư thập sư chắp tay vấn tấn.

Thập sư khen lễ tam bảo xong, thầy duy na cử chú Đại Bi, đại chúng cùng chúc tụng. Giới sư thứ mười, trước chuyển thân từ Đông Nam hướng về phía Tây, nhiễu đàn về đến vị sư thứ chín. Kế đến là vị sư thứ tám, cho đến giới sư thứ nhất đi sau cùng, nhiễu đàn ba vòng xong tháo giày rồi từ phía Tây lên bậc thứ hai, hướng về phía Tây Bắc nhiễu một vòng đến phía Nam lên bậc thứ ba. Vị giới sư thứ nhất đứng xoay mặt về phương Nam, chín vị giới sư đứng xoay mặt về phía Bắc, chín vị giới sư hướng về giới sư thứ nhất lạy ba lạy. (Việc đáp lễ căn cứ như trước có thể biết). Vị sư thứ nhất xướng trước, chín vị giới sư cùng hòa, còn các chúng khác im lặng).

Trì giới trong sạch như trăng tròn sáng,

Thân và miệng sáng sạch không vết dơ,

Đại chúng luôn hòa hợp không nghi tranh,

 Thế mới có thể được cùng thọ giới.

Mười vị giới sư hòa họp lạy và cử tán xong, vị sư thứ nhất ngồi ở tòa chính giữa, Yết Ma sư ở bên trái của thủ tòa, Giáo Thọ sư ở bên phải của thủ tòa, bảy vị Tôn Chứng cứ theo thứ tự mà ngồi ở hai bên.

THỨ BA ĐÀN CHỦ BẠCH PHÁP.

(đàn chủ ở đây tức là vị Hòa thượng sư thứ nhất vậy)

Pháp âm ít gặp, giới đức khó nghĩ, hay vượt khỏi dòng phàm tình ô uế, vào được ngôi báu thánh hiền, làm bậc thầy khuôn mẫu  thật là khó, cửa lò mở rộng, căn cơ người phải rèn,  thọ trì cấm giới, y bát nên nghiêm trang, nếu như không có y bát chẳng cho thiếu mượn. Trước nói trọng nạn, sau nêu khinh giá, hỏi ra nếu không hiểu không biết, thì sự cố gắng cũng uổng công. Tin thật đáp thật, thì sự rèn luyện mới được thành. Phàm muốn phát thượng phẩm chơn thành, thì phải nhờ ngoại cảnh, khiến cho mười phương thiện pháp, rưới thấm thân tâm, năm phần cơ bản mới thành, thể của ba thân đầy đủ, nên cần phải cùng chung chí nguyện, xin chớ có phan duyên chuyện khác, mỗ giáp…đây xin cẩn bạch.

Dẫn lễ nói:

Sa di các vị, mỗi người căn cứ theo địa vị, rồi y theo thứ lớp mà xếp hàng.

Hai bên phải trái, Sa Di đầu phải đứng ngay hàng thẳng lối từ trên đến dưới, còn những vị khác thì căn cứ theo đó sắp cho ngay ngắn, đến trước giới đàn, phân ban theo thứ tự mà đứng yên, các vị dẫn lễ đem đại y của các Sa Di tạm thời để trên án, nhằm tiện việc lễ bái.

Thượng hương, ba vị cầm hương đều đứng xoay lên trên, cử đầy đủ nghi thức và quì thẳng cắm hương vào lư. Trở về chỗ cũ, hướng về trước xếp hàng, vấn tấn, trải đại cụ, nghe tiếng khánh, đảnh lễ ba lạy, vén y, hộ bát, lạy xong rồi quì thẳng chắp tay.

Đàn chủ vỗ xích bạch:

Này các Sa di! Hôm nay nhóm Tăng đăng đàn, tác pháp như luật, theo lý nên trước cầu tam bảo, từ quang nhiếp chiếu, kế đến cúi mong vạn linh uy thần hộ vệ, mỗi người tự xưng pháp danh, xưng xong rồi cùng nhau đứng dậy, theo lời tôi mà quán tưởng, ba lần thỉnh.

Thập sư cùng một lúc đứng dậy, chí thành thanh tịnh vận tưởng, đàn chủ niệm hương, phải ba lần cung thỉnh Phật và chư thiên. Sa di cầu thọ cụ mỗi một lần  thỉnh xong, đều phải lạy xuống. Nên biết năng sở vắng lặng, cảm ứng giao nhau.

Hương hoa nghinh, hương hoa thỉnh. Sa Di mỗ giáp… nhất tâm phụng thỉnh Ta Bà Giáo Chủ Bổ Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Tây phương tiếp dẫn A Di Đà Phật, đương lai hạ sanh Di Lặc tôn Phật, tận hư không biến pháp giới, nhất thiết chư Phật.

Duy nguyện, không trái bổn thệ, từ quang nhiếp chiếu, chứng minh thọ giới.

Cung thỉnh như thế rồi, đại chúng lạy một lạy, đứng dậy chắp tay quán tưởng.

 Hương hoa nghinh, hương hoa thỉnh, Sa Di mỗ giáp…. một lòng phụng thỉnh, đại tiểu hai thừa, Tỳ Ni luật tạng, năm thiên ba tụ, giải thoát mộc xoa, 12 phần kinh, quyền thật giáo điển, ly dục chơn tịnh, pháp bảo thậm thâm.

Duy nguyện nhất tâm qui mạng đảnh lễ. (Như trước).

Hương hoa nghinh, hương hoa thỉnh, Sa Di mỗ giáp… nhất tâm phụng thỉnh Quan Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Thanh Tịnh Hải Chúng, chư đại Bồ tát, luật tạng hội thượng, Ưu Ba Ly tôn giả, Tây thiên đông độ, lịch đại tổ sư, truyền Nam Sơn tông, các vị đại luật sư tổ làm hương thanh luật ở Trung Hoa, Huệ Vân Hinh Công đại hòa thượng, dưới đây lại tiếp thêm vào hòa thượng bổn sư đắc giới húy…

Duy nguyện, không trái bổn thệ, từ quang nhiếp chiếu, chứng minh thọ giới. (như trước).

 Hương hoa nghinh, hương hoa thỉnh, Sa Di mỗ giáp… một lòng phụng thỉnh.

Quang minh hội thượng, ký vị chư thiên, Phạm Thích Tứ Vương, Thiên Long Bát Bộ, Già Tam Thổ Địa, Hộ Giới Thần Vương, Kim Cang Lực Sĩ, u hiển linh kỳ. Duy nguyện không trái bổn thệ, trấn đàn hộ giới.

Phụng thỉnh như thế xong, thập sư vẫn ngồi kết già ở trên tòa, các vị Sa Di đều quì gối chắp tay.

THỨ TƯ CHỖ ĐỂ NHÓM NGƯỜI THỌ GIỚI LẠI.

Đức Phật dạy, người thọ giới không được ở ẩn trong hư không, lìa chỗ thấy nghe, nếu ở ngoài giới, hòa thượng và túc số người cũng vậy. (Túc số người  là trên đàn có chín vị giới sư). Nên an trí người thọ giới ở chỗ mắt thấy mà tai không nghe.

Vị đàn chủ vỗ xích nói rằng:

Khải bạch tam bảo đã xong, các vị dẫn lễ đem những Sa Di cầu thọ cụ giới, an trí ở chỗ mắt thấy tai không nghe.

Dẫn lễ nói rằng:

Các sa di lạy một lạy xong đứng dậy, lấy tọa cụ, phân ban, các vị dẫn lễ đem đại y chia cho mọi người tự dâng lên. Các vị theo âm thanh tôi, cùng một lúc niệm Phật ra khỏi giới đàn.

Dưới đàn các tỳ kheo đi ra trước, hai vị dẫn lễ cầm hai dẫn khánh đánh dẫn đi đầu tiên, miệng xưng danh hiệu Phật, các Sa di tay dâng đại y, hòa âm thanh tụng niệm, hai bên cùng đi theo sau, để ra khỏi ngoài đàn.

THỨ NĂM PHÁP SAI GIÁO THỌ.

Khi có người thọ giới, đem ra ngoài giới rồi giải y xem, tra xét những việc để cho thọ giới. Phật dạy, không nên như vậy. Từ nay trở đi, trước hỏi mười ba già nạn, sau đó mới cho thọ giới.

Đàn chủ vỗ xích rằng:

Hỏi: Tăng nhóm chưa?

Duy Ma đáp: Tăng đã nhóm.

Hỏi: Hòa họp không?

Đáp: Hòa họp.

Hỏi: Người chưa thọ giới tỳ kheo ra chưa?

Đáp: Đã ra.

Hỏi: Tăng nay hòa họp để làm gì?

Đáp: Yết ma thọ giới cụ túc.

Nay đây trong đại chúng ai có thể làm giáo thọ sư, đến chỗ khuất hỏi nạn các Sa di.

Vị thứ ba ở trên tòa chắp tay đáp: Con mỗ giáp… có thể làm. Đàn chủ nói: Trưởng lão đã có thể làm được, thì trong chúng Yết ma đơn bạch, sai Giáo thọ sư xuất đàn hỏi nạn. Yết ma sư ở bổn tòa chắp tay bạch rằng:

Đại đức Tăng lắng nghe, Sa di mỗ giáp… theo hòa thượng mỗ giáp, cầu thọ giới cụ túc. Nếu thời gian thích hợp với Tăng, Tăng bằng lòng cho ngài mỗ giáp… làm giáo thọ sư, bạch như thế, tác bạch có thành không? Bảy vị tôn chúng ở trên tòa đều chắp tay đáp: Thành.

Bảy vị tôn chứng đều đáp thành nghĩa là ba việc nhơn pháp sự đều như luật, như pháp, như lời Phật dạy. Đây nghĩa là xứng lượng được thích hợp, biện sự liền được thành tựu. Nếu không như luật dù có đáp thành, thì việc cũng không có được cứu tế, bảy vị tôn chứng phạm tội. Một chữ ở trong câu thật không nên xem thường, nay đã Yết ma thành rồi, Giáo thọ sư liền nên khởi tòa làm lễ vị đàn chủ ba lạy, xoay thân từ hướng nam xuống cấp thứ hai, hướng về phía tây nam đi nhiễu đến hướng đông bắc xuống cấp thứ ba, mang dép đi nhiễu đến hướng chánh nam, hướng về đàn thượng chắp tay vấn tấn, đi ra theo hướng Tây Nam tới chỗ khuất hỏi.

THỨ SÁU PHÁP GIÁO THỌ RA KHỎI CHÚNG HỎI NẠN.

Sư đến chỗ khuất lên tòa ngồi, vỗ xích một tiếng. Vị Đại đức dẫn tán, đem ba Sa di xin thọ cụ túc giới đến trước mặt sư, tiếp giữ lấy đại y của họ, rồi bảo lạy ba lạy, quỳ gối chắp tay, rồi trả y lại cho họ, vị dẫn tán liền đến chỗ không thấy nghe.

Sư vỗ xích nói rằng:

Này các sa di, các vị sư ở trên đàn tác pháp sai tôi, hỏi già nạn của ba vị, vậy các vị chớ có sợ hãi. Trong chốc lát nữa đây, tôi khiến cho các vị lên đàn báu, thọ giới cụ túc thành đại tỳ kheo, dự vào túc số tam bảo, đây chẳng phải là nhân duyên nhỏ, các vị nên sanh lòng vui mừng.

Nói đến giới chính là cội gốc của Bồ đề, là nền tảng của thánh đạo. Phật còn ở đời, hàng căn cơ lanh lợi hễ vừa dấy khởi thì liền cảm ứng. Còn đời mạt pháp mong manh, thì nên theo duyên Phật dạy, nhân duyên tập họp thì tác pháp thành công, nhân duyên tan rã thì giới đức không có lập, công huân vô tác không thể thấy được, nương vào duyên định có không, ba y một bát là chánh duyên để các vị đắc giới. Trước khi tôi hỏi già nạn, thì điều đầu tiên phải nói cho các vị nghe về danh tướng của y bát. Giới sư chỉ bày hai y năm và bảy điều đắp trên thân và cái đại y đang cầm trên tay của giới tử nói. Đây là y An đà hội, đây là y Uất đa la tăng, đây là y Tăng già lê, đây là Bát đa la. Y bát này chính là cờ nêu của hằng sa chư Phật, là phép tắc của thánh hiền, 96 thứ ngoại đạo ở Tây Thiên Trúc còn không biết danh tự, chỉ có Phật mới chỉ bày pháp chưa từng có này. Nay các vị được thọ trì, vì vậy phải nên trân kính tiếc giữ. Vậy y bát này có phải là của các vị có không? Đáp: Phải. Đã có thì rất tốt, nên phải giữ gìn đắp mặc.

Trong các bộ luật cũng có thêm pháp thọ, còn hai y năm và bảy điều, ở trong lúc thọ sa di giới từng tạm cho thọ đắp mặc rồi, nay chỉ có đại y chưa thọ, vị dẫn tán bảo ba giới tử kia, cúi đầu xong đứng qua một bên. Một vị sa di đứng gần phía trước đắp y nói với sư rằng:

Đại đức, một lòng nghĩ con mỗ giáp…, cái y Tăng già lê 25 điều này, bốn lằn dài một lằn ngắn là cái y cắt rọc con xin thọ trì, nói xong ba lần. Sư đáp: Thiện.

Còn chín phẩm đại y cứ theo đó mà thọ, khi đã thọ xong rồi, miệng tụng kệ chú, tề chỉnh đắp y, người chưa thọ lần lượt đến với sư, cũng thọ như trước, khi đắp y đã xong, tất cả đều hướng về sư lạy một lạy, quỳ gối chắp tay. Sư vỗ xích nói:

Các Sa di lắng nghe, các vị từ vô thỉ đến nay khởi tâm hư vọng, dối gạt thánh hiền, chìm đắm trong sanh tử, không có kỳ giải thoát, nay đã theo Phật xuất gia làm đệ tử Phật, thọ cấm giới của Ngài, mong thoát khỏi bến bờ sanh tử, cốt yếu là để đoạn trừ gốc hư vọng, thực hành đạo chơn thật, nay chính là lúc chí thành, là lúc nói thật. Tôi hỏi các vị về trọng nạn khinh giá. Các vị nên xét kỹ thân này, có thì nói có, không thì nói không.

Hỏi: Ba vị có phạm biên tội không?

Đáp: Không.

Giới sư nói rằng: Các vị khi vừa mới vào cửa Phật không biết tội này, nghĩa là từng thọ giới của Phật rồi, ở bốn tội trọng sát đạo dâm vọng, tùy theo phạm mỗi một giới thì liền bỏ ra ngoài biển Phật pháp, cho nên gọi là biên tội. Vậy các vị có phạm không? Đáp: Không.

Phàm vấn nạn chuyện có hay không, ý là chỗ hiểu rõ, cho nên trong biên tội mà không hiểu rõ thì không thể thành xả giới. Nay tuy hỏi mà không biết thì chẳng khác gì không hỏi. Trong luật chép: Không thành chuyện thọ giới, cho nên những giới sau đều thuộc loại này, có thể biết được.

Hỏi: Lúc các vị còn làm bạch y, Sa di có làm dơ tịnh hạnh của tỳ kheo ni không?

Đáp: Không.

Hỏi: Lúc các vị còn làm bạch y, Sa di trộm nghe chúng tăng thuyết giới, dối xưng là tỳ kheo để thọ nhận người lễ bái cúng dường, gọi đó là kẻ giặc ở trong Phật pháp. Nếu là kẻ giặc ở trong Phật pháp thì không cho độ. Vậy ngươi có thuộc hạng người này không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị chẳng phải là ngoại đạo theo Phật xuất gia thọ giới rồi sau đó lại trở về với ngoại đạo. Nay lại trở về xin thọ giới Phật, hạng người này tánh khí bất thường, gọi là phá nội ngoại đạo, chẳng phải là pháp khí trong nhà Phật, Phật không cho độ. Vậy các vị có thuộc hạng người này không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị có phải năm loại bất nam không?

- Sanh bất năng nam: Nghĩa là từ lúc sanh năm căn không đủ, gọi là sanh bất nam.

- Kiền bất nam: Nghĩa là người dùng dao chặt (thiến) bỏ năm căn, gọi là kiền bất nam.

- Đố bất nam: Nghĩa là nam căn dường như là không có. Hễ thấy người khác hành dâm, nhân vì sanh lòng tật đố, liền gợi cảm có nam căn, nên gọi là đố bất nam.

- Biến bất nam: Nghĩa là hay biến hiện, gặp người nam thì biến làm người nữ căn, gặp người nữ thì biến thành nam căn. Cho nên gọi là biến bất nam.

- Bán bất nam: Nghĩa là nửa tháng là nam, nửa tháng không phải là nam. Nên gọi là bán bất nam.

Các vị có phạm một trong năm hạng người này không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị có từng giết cha không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị có từng giết mẹ không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị  có từng giết A la hán không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị có từng phá hòa họp Tăng không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị có ác tâm làm thân Phật ra máu không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị có phải là chư thiên, quỉ thần biến làm hình người đến để xin thọ giới không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị có phải là rồng, súc sanh… có thể biến hóa làm hình người đến để thọ giới không?

Đáp: Không.

Hỏi: Trong thân ba ngươi có mang hai hình nam và nữ không? Nếu có là trái với đạo khí, vậy các vị có không?

Đáp: Không.

Các sa di, 13 trọng nạn này đã không, tôi nay lại hỏi các vị 16 tội khinh giá. Nên thật lòng mà đáp như trước. Này các sa di, từ khi các vị xuất gia đến nay, mỗi người đều được chỉ dẫn. Vậy các vị pháp danh là gì, (mỗi người đều nói pháp danh của mình), pháp danh này chính là ba vị khi mới nhập đạo, một đời xưng gọi. Từ nay thọ giới trở đi, hễ gặp hòa thượng A xà lê, cùng giới đàn tôn chứng, thượng trung hạ tòa, cho đến tể quan trưởng giả, bạn bè tri thức, cùng ở trước cha mẹ sư trưởng, đều nên xưng hai chữ pháp danh này, không được xưng nói: Tôi là tiểu Tăng mỗ giáp…

Hỏi: Hòa thượng trên đàn mà ngày nay ba vị đắc giới là ai?

Đáp: Thượng mỗ… hạ mỗ… đại hòa thượng.

Sư nói: Đây là mỗ… luật sư ở chùa mỗ… là hòa thượng ba vị đắc giới. Tiếng Phạn gọi là hòa thượng. Trung Hoa dịch là lực sanh, vì đạo lực ba thừa, năm phần pháp thân đều nhờ oai lực của vị sư này mà sanh, cho nên nói là lực sanh. Lại gọi là nương học, nghĩa là nương theo vị sư này mà học pháp xuất thế, cho nên nói là y học. Ngày hôm nay thọ giới, nếu không có vị sư này, giới không từ đâu mà phát khởi. Các vị phải nhớ lấy tôn danh của hòa thượng, nhận lấy từ dung của hòa thượng. Nếu không nhớ được danh tự và tướng mạo thì việc thọ giới sẽ không đắc. Từ nay đã bỏ phàm gặp tiết lạp kết chế giải chế, nên phải nhớ nghĩ thắp hương lễ bái hòa thượng đắc giới. Nếu đường xa không thể đến để hầu cận thì nên thắp hương từ nơi xa xăm ngưỡng vọng dốc lòng thành kính, không được giãi đãi.

Hỏi: Ba vị đã đủ 20 tuổi chưa?

Đáp: Đã đủ.

Hỏi: Cha mẹ cho các vị xuất gia không?

Đáp: Cho.

Hỏi: Các vị có thiếu nợ người, khởi tâm không trả, rồi đến xin thọ giới phải không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị có phải là người bị người khác sai khiến không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị có phải là quan ở cung vua, đang hưởng bổng lộc của nhà vua không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị có phải là bậc đại trượng phu không?

Đáp: Phải.

Bổn luật chép: “Năm mãn 20 tuổi, có thể chịu đựng nóng lạnh, gió mưa đói khát, trì giới, ngày ăn một bữa, nhẫn được lời nói thô ác và độc trùng, là ngôi vị đại trượng phu, thì phải không có năm căn bệnh như: 1/ Ghẻ lở. 2/ Ung nhọt. 3/ Bạch lại. 4/ Gầy ốm. 5/ Điên cuồng.

Năm hạng người này cầu ngài Kỳ Bà điều trị. Kỳ Bà nói: Tôi chỉ là điều trị cho y vương (Phật) và đệ tử của Phật. Người kia suy nghĩ rồi, liền xuất gia cho thọ cụ túc giới, lại phải đi điều trị, nhưng khi bệnh lành rồi bỏ đạo trở về nhà. Trên đường đi gặp Kỳ Bà, ông hỏi xong và mới bạch Phật, cho nên Phật chế không cho”.

Nếu căn cứ vào trong luật, phàm hễ thân tướng không đầy đủ, có nhục cho đại Tăng đều không cho, nay chỉ hỏi, sau cùng để nhiếp quảng bá rộng ngăn vậy.

Các sa di, những điều tôi vừa hỏi các vị, trong chốc lát nữa, trên đàn trước các giới sư cũng hỏi như vậy. Các vị trả lời với tôi như thế nào thì lát nữa trên đàn trước các giới sư, các vị cũng phải trả lời như thế. Bây giờ các vị đi theo tôi và đợi chốc lát, trước hết tôi đến trong Tăng tác bạch. Tăng nếu im lặng hứa khả thì khi tôi ngoắc các vị phải tiến vào giới đàn.

Dẫn lễ bảo ba Sa di lạy một lạy rồi đứng dậy ở bên cạnh. Giáo thọ sư đứng dậy rời khỏi tòa đi ra trước, ba sa di thứ tự đi theo sau, lúc sắp gần giới đàn khiến cho sa di đứng yên, làm sao cho trông thấy trên đàn.

THỨ BẢY PHÁP TÁC BẠCH CHO VÀO TRONG CHÚNG.

Giáo thọ sư đến trước đàn, đứng ở giữa chắp tay hướng về phía trước, vấn tấn xong tác bạch rằng:

Đại đức tăng lắng nghe, các sa di mỗ giáp… kia, theo hòa thượng mỗ giáp…, cầu thọ giới cụ túc. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng bằng lòng cho, con mỗ giáp… đã hỏi xong. Nếu Tăng cho thì đem đến. Bạch như thế (sư bạch rồi, xoay mặt về các Sa di, ngoắc tay mời đến), các Sa di, các vị đến đây.

Các sa di nghe kêu đến, liền sửa sang oai nghi đi thẳng về trước, sư dời bước đến bên trái của hương án, đứng nói rằng: Các vị một lúc đến trước hương án vấn tấn quỳ thẳng, người ở giữa dâng một nén nhang cúng dường chư giới sư trên đàn. Dâng hương xong, lạy một lạy đứng dậy, rồi đi theo tôi lên đàn để xin giới.

THỨ TÁM NÓI RÕ VIỆC XIN GIỚI PHÁP.

Giáo thọ sư đi trước, Sa di theo sau, đi nhiễu đến phía tây đàn, mở giày lên cấp thứ hai, theo phía Tây bắc nhiễu đến chánh nam lên cấp thứ ba, sư trở về tòa đứng chắp tay nói:

Các vị trải tọa cụ, lạy ba lạy, vén y, lạy xong quỳ gối chắp tay.

Thiện nam tử khẩn thiết chí thành, nương nhờ thánh chúng, ai cầu xin giới. Lời bạch xin giới, lẽ ra các vị cùng tỏ bày, nhưng e rằng các vị chưa rành, nên tôi nay hướng dẫn các vị, các vị nên xưng pháp danh, xưng rồi còn những lời khác đều phải nói theo tôi.

Đại đức Tăng lắng nghe, con mỗ giáp… theo hòa thượng mỗ giáp… xin thọ giới cụ túc. Ngài mỗ giáp làm hòa thượng, xin Tăng thương xót cho, cứu giúp chúng con. (Xin như thế ba lần xong, mỗi lần đều cúi đầu, giáo thọ sư đến tòa ngồi).

THỨ CHÍN PHÁP YẾT MA SƯ ĐƠN BẠCH.

Yết ma sư, ở bổn tòa chắp tay, đơn bạch yết ma xong, sau đó hỏi nạn, tác bạch như thế này.

Đại đức tăng lắng nghe, các sa di  này theo hòa thượng mỗ giáp, cầu thọ giới cụ túc. Nay theo chúng Tăng xin thọ giới cụ túc, ngài mỗ giáp… làm hòa thượng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng bằng lòng cho.

Tôi hỏi các việc nạn bạch như thế. Tác bạch thành không, bảy vị tôn chứng sư ở chỗ ngồi chắp tay đáp thành.

THỨ MƯỜI CHÁNH THỨC VẤN NẠN.

Yết ma sư nói: Y An đà hội, Uất đa la Tăng, Tăng già lê, Bát đa la, y bát này có phải của ba vị không?

Đáp: Phải.

Thiện nam tử lắng nghe, giờ này là lúc chí thành, lúc nói thật. Nay theo điều đã hỏi, các vị nên như thật mà đáp.

Luật Tăng Kỳ chép: “Nếu không đúng như thật, tức là dối gạt chư thiên ma phạm, sa môn, bà la môn thế gian và cho đến  Như lai,  chúng Tăng, như thế sẽ tự mắc tội lớn”.

Hỏi: Vậy ba vị có phạm biên tội không?

Đáp: Không.

Hỏi: Lúc các vị còn làm bạch y, Sa di có làm ô tịnh hạnh của tỳ kheo ni không?

Đáp: Không.

Hỏi: Ba vị lúc còn làm bạch y, sa di, trộm nghe chúng Tăng thuyết giới, dối xưng là tỳ kheo để thọ nhận người cung kính, lợi dưỡng lễ bái. Đó gọi là kẻ giặc, đức Phật không cho độ. Vậy các vị có thuộc hạng người này không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị có phải là ngoại đạo xuất gia đầu Phật, thọ giới của Phật rồi, sau đó lại trở về với ngoại đạo, nay lại trở về thọ giới tỳ kheo, người này tánh khí không định, gọi là phá nội ngoại đạo, chẳng phải là pháp khí của Phật, Phật không cho độ, vậy các vị có thuộc hạng người này không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị  có phải sanh, kiền, đố, biến, bán, năm loại người bất nam không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị  có ác tâm làm thân Phật ra máu không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị  có phải là chư thiên, quỉ thần biến làm hình người đến để cầu thọ giới không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị  có phải là rồng, súc sanh… hay biến hóa làm hình người đến để thọ giới không?

Đáp: Không.

Hỏi: Cả ba vị  trong thân có mang hai hình không? đây là trái với đạo khí, vậy các vị có không?

Đáp: Không.

Các thiện nam tử, 13 trọng nạn này đã không, tôi nay lại hỏi các vị về 16 tội khinh giá. Ba vị từ khi xuất gia đến nay, mỗi người đều được chỉ dẫn, vậy pháp danh của các vị là gì? (mỗi vị đều xưng pháp danh của mình), hòa thượng mà ba vị đắc giới là ai? Đáp: Thượng mỗ… hạ mỗ… đại hòa thượng.

Hỏi: Các vị  đã đủ 20 tuổi chưa?

Đáp: Đã đủ.

Hỏi: Cha mẹ cho các vị xuất gia không?

Đáp: Có.

Hỏi: Các vị thiếu nợ người, khởi tâm không trả rồi trốn tránh đến xin thọ giới phải không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị  có phải là người bị người khác sai khiến không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị  có phải là quan nhơn có danh, có lộc ở triều đình không?

Đáp: Không.

Hỏi: Các vị  có phải là trượng phu không?

Đáp: Phải.

Đã là trượng phu lại cần phải không có bệnh: 1/ Ghẻ lở. 2/ Ung thư. 3/ Bạch lại. 4/ Càn tiêu. 5/ Điên cuồng. Các vị có năm thứ bệnh như thế không?

Đáp: Không.

THỨ 11 NÓI RÕ PHÁP TRAO GIỚI THỂ.

Hòa thượng vỗ xích nói:

Các thiện nam tử, trước đã không có trọng nạn, sau không có tội khinh giá, thật là món đồ trong sạch, chúng Tăng cùng vui mừng, sẽ trao cho các vị giới, chỉ cần bậc thượng thiện hiểu sâu giới, rộng khắp pháp giới, sánh đồng hư không. Nay muốn tiến thọ cần nương theo cảnh mà phát tâm, tâm cảnh dung nhiếp nhau mới phát sanh giới thể vô tác.

Bộ Tát Bà Đa Luận chép: “Phàm muốn thọ giới, trước hết phải nói pháp dẫn dắt để cho họ khơi mở hiểu rõ. Ba vị từ vô thỉ đến nay, ở trong tất cả cảnh tạo nên ác nghiệp biến khắp pháp giới, nay muốn thọ giới phải thay đổi ác cảnh trước và khởi tâm lành. Cho nên nhân của giới pháp biến khắp pháp giới. Vì vậy Đức Như lai ta thuận theo vô lượng vô biên nghiệp báo của tất cả chúng sanh, theo đó mà chế vô biên giới, cho nên phải duyên theo cảnh. Cảnh lượng tuy nhiều, nhưng chỉ nêu ra phần cốt yếu không ra ngoài hai loại. 1/ Tình cảnh. 2/ Phi tình cảnh.

- Nói tình cảnh là trên đến chư Phật, dưới đến tất cả chúng sanh, chánh báo mười cõi, trung ấm hữu tình, phàm người có tâm đều gọi là tình cảnh.

Còn phi tình cảnh là y báo mười cõi. Tất cả thế gian sơn hà đại địa, cây cỏ lùm rừng, xe thuyền nhà cửa, trân bảo ruộng vườn, đất nước lửa gió cho đến hư không. Phật nói thánh giáo, hàng nho sĩ văn tự, hình tượng tháp miếu… đều gọi là phi tình cảnh. Thiện nam tử đã biết cảnh tượng rộng lớn như thế, nên phải y theo cảnh mà phát tâm. Tâm có ba phẩm, trung hạ hai tâm, kém nhược chẳng thù thắng, chỉ hay tự độ, không thể độ người. Ta nay dạy ngươi phát thượng phẩm tâm, cầu thượng phẩm giới, sao gọi là tâm thượng phẩm?

Nay ở trước tòa chư giới sư mà phát ba lời thệ nguyện.

1/ Thề nguyện đoạn tất cả ác, không pháp ác nào không đoạn.

2/ Thề tu tất cả thiện, không thiện nào không tu.

3/ Thề độ tất cả chúng sanh, không một chúng sanh nào mà không độ.

Phát ba loại đại thệ nguyện này rồi, thì sau đó mới bạch tứ yết ma, tiến thọ đại tỳ kheo giới. Không chỉ vì cầu thanh văn tiểu quả, thẳng muốn thành tựu tam tụ tịnh giới tiến đến ba cửa giải thoát, chánh cầu Phật quả, cầu đại Niết bàn, khiến cho chánh pháp cữu trụ, phát thượng phẩm tâm như thế, thọ thượng phẩm giới, kế đến nên mở rộng hoài bảo của người. Bởi do cái thể giới pháp biến khắp pháp giới, lượng sánh với trần sa, trọn không do  cái báo thân nhỏ hẹp của các vị hiện tại do cha mẹ sanh ra mà được, khởi cái thân khí lượng sánh với hư không mới có thể lãnh nạp được giới pháp như trần sa. Cho nên Luận chép: Nếu giới pháp này có hình sắc, lúc vào trong thân của các vị sẽ làm cái tiếng núi lở đá nứt do là phi sắc pháp. Nay các vị không hay biết, nên khởi cái ý tỉnh giác phát tâm ân trọng thượng phẩm lãnh nạp giới phẩm thanh tịnh vi diệu của Như lai.

Vỗ mọt tiếng xích.

Bây giờ chính vì các vị mà bạch tứ yết ma, thọ giới đại tỳ kheo, các vị nên mắt xem đàn nghi, tai nghe yết ma, một lòng lắng nghe tiếp nhận, chẳng nên suy biết việc khác, thầy yết ma trước hết tác bạch lại sự việc báo cho biết, kế đến bạch tam yết ma, để suy lường được hay không.

Căn cứ theo luật Thập Tụng chép: Lúc yết ma thọ giới, nên nhất tâm lắng nghe, chẳng nên tư duy chuyện khác, chỉ nên kính trọng, nên chánh tư duy, tâm tâm nhớ nghĩ, nên phân biệt, nếu trái thì mắc tội đột kiết la, nếu chúng thọ giới nhiều, có thể lược văn trong Tùy Cơ Yết Ma, văn này là rộng lược chép ra từ Nam Sơn, như giản lược trong lúc khai đạo, nên nói với họ rằng:

Chúng sanh trong lục đạo phần nhiều bị giới chướng, chỉ người được thọ còn gồm già nạn, không hẳn đều có thể kham nhận, các vị không bị già nạn nhất định được thọ giới, các vị nên y theo văn trong luận phát tăng thượng tâm. Cho nên gọi là cứu nhiếp tất cả chúng sanh, lấy pháp mà độ họ. Lại nữa, giới là gốc rễ của các điều thiện, hay làm chánh nhân ba thừa. Lại nữa, giới là kho báu trong Phật pháp, các đạo khác thì không. Lại nữa, giới hay hộ trì chánh pháp được cửu trụ. Lại nữa, nương nhờ vào oai thế yết ma, đạo lực của chúng Tăng, hay đem tất cả pháp giới thắng pháp để vào thân tâm các vị, các vị nên mắt nhìn đàn nghi, tai nghe yết ma…

Rộng như trước có thể biết.

THỨ 12 CHÁNH THỌ GIỚI THỂ.

Thầy yết ma chắp tay bạch.

Cúi mong hòa thượng vì đại chúng không tiếc tâm từ bố thí giới pháp, đồng tâm cùng vâng giữ cẩn thận chớ có duyên khác. Cả ba vị đây cảm phát viên tông giới thể, sắp bạch yết ma, nghe tuyên tác bạch.

Đại đức Tăng nghe mỗ giáp… này, theo hòa thượng mỗ giáp… cầu thọ giới cụ túc. Mỗ giáp… này nay theo chúng Tăng thọ giới cụ túc. Ngài mỗ giáp… làm hòa thượng. Mỗ giáp… tự nói thanh tịnh, không có các việc nạn, tuổi đủ 20, ba y bình bát đầy đủ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng bằng lòng cho mỗ giáp… giới cụ túc, ngài mỗ giáp… làm hòa thượng. Bạch như thế, tác bạch có thành không? Thất chứng sư chắp tay đáp thành.

Bạch Đại đức Tăng nghe mỗ giáp… này, theo hòa thượng mỗ giáp… cầu thọ giới cụ túc. Những mỗ giáp… này nay theo chúng Tăng xin thọ giới cụ túc, ngài mỗ giáp làm hòa thượng. Những mỗ giáp… này tự nói thanh tịnh, không có các việc nạn, tuổi đủ 20, ba y bình bát đều đủ. Tăng nay trao cho mỗ giáp… giới cụ túc, ngài mỗ giáp… làm hòa thượng. Trong đây các trưởng lão nào bằng lòng Tăng cho mỗ giáp… thọ giới cụ túc, ngài mỗ giáp… làm hòa thượng thì im lặng, ai không bằng lòng thì nói. Đây là yết ma lần thứ nhất có thành không? Đáp như trước “thành”.

Bạch Đại đức Tăng nghe những mỗ giáp… này theo hòa thượng mỗ giáp… cầu thọ giới cụ túc, những mỗ giáp… này nay theo chúng Tăng xin thọ giới cụ túc, ngài mỗ giáp… làm hòa thượng. Những mỗ giáp… này tự nói thanh tịnh, không có các việc nạn, tuổi đủ 20, ba y bình bát đều đủ. Tăng nay trao cho mỗ giáp… giới cụ túc, ngài mỗ giáp làm hòa thượng. Trong đây các trưởng lão nào bằng lòng Tăng cho mỗ giáp… thọ giới cụ túc, mỗ giáp… làm hòa thượng thì im lặng, ai không bằng lòng thì nói. Đây là yết ma lần thứ hai, có thành không? Đáp như trước “thành”.

Bạch Đại đức Tăng nghe những mỗ giáp… này theo hòa thượng mỗ giáp… cầu thọ giới cụ túc, những mỗ giáp… này nay theo chúng Tăng xin thọ giới cụ túc, ngài mỗ giáp… làm hòa thượng. Những mỗ giáp này… tự nói thanh tịnh, không có các việc nạn, tuổi đủ 20, ba y bình bát đều đủ. Tăng nay trao cho những mỗ giáp… này giới cụ túc, ngài mỗ giáp… làm hòa thượng. Trong đây các trưởng lão nào bằng lòng tăng cho những mỗ giáp… thọ giới cụ túc, ngài mỗ giáp… làm hòa thượng thì im lặng, ai không bằng lòng thì nói. Đây là yết ma lần thứ ba, có thành không? Đáp như trước “thành”.

Tăng đã bằng lòng cho những mỗ giáp… thọ giới cụ túc xong, ngài mỗ giáp… làm hòa thượng. Tăng bằng lòng thì im lặng, việc này xin ghi nhận như vậy.

Bộ Thiện Kiến và các bộ luật khác đều chép rằng: “Thọ giới cụ túc rồi, hòa thượng A xà lê… phải nên nói cho giới tử ghi nhớ thời khắc… xuân hạ đông, tháng mấy… ngày mấy… cho đến lượng bóng… đã thọ cụ túc giới. Nếu không nói cho họ nhớ lấy, thì giới sư ở đàn thượng có tội. Đây là nói rõ số hạ lạp của Tăng khiến cho lúc đi lại ngồi đứng, biết lễ tiết tôn ty thượng trung hạ tòa.

THỨ 13 NÓI PHÁP BỐN GIỚI CHƯỚNG.

Bấy giờ có tỳ kheo thọ giới cụ túc xong, chúng Tăng bỏ đi, đã không biết phạm, liền tạo trọng tội. Phật dạy, từ nay trở đi, khi tác pháp yết ma xong, trước hết nên trao cho họ bốn pháp Ba la di.

Hòa thượng vỗ xích nói:

Thiện nam tử lắng nghe, Như lai chí chơn đẳng chánh giác nói bốn pháp Ba la di. Nếu tỳ kheo phạm mỗi một pháp thì chẳng phải sa môn, chẳng phải con họ Thích.

Tất cả các vị không được phạm giới dâm, không được làm hạnh bất tịnh. Nếu tỳ kheo phạm hạnh bất tịnh, thọ pháp dâm dục cho đến cùng súc sanh thì chẳng phải sa môn Thích tử.

Bấy giờ Thế tôn nói ví dụ giống như có người bị chặt đầu, trọn không thể sống lại. Tỳ kheo cũng như thế, phạm pháp Ba la di rồi không thể trở lại hạnh tỳ kheo. Các vị trong giới này suốt đời thọ trì không được làm, có thể giữ được không? Đáp: Giữ được.

Tất cả các vị không được trộm cắp cho đến cọng cỏ, lá cây. Nếu tỳ kheo trộm của người năm tiền, hoặc tự lấy, dạy người lấy, hoặc tự phá, bảo người phá, hoặc tự chặt, dạy người chặt, hoặc tự đốt, dạy người đốt, hoặc chôn, hoặc làm hoại sắc, người ấy chẳng phải sa môn Thích tử. Ví như cây Đa La bị chặt đọt, trọn không thể sống lại được. Tỳ kheo phạm pháp Ba la di cũng như thế, trọn không thành hạnh tỳ kheo, các vị suốt đời thọ trì không được làm, có thể giữ được không? Đáp: Giữ được.

Tất cả các vị không được giết mạng chúng sanh, cho đến con kiến. Nếu tỳ kheo tự tay mình giết mạng người, cầm dao đưa người giết, dạy chết, khen chết, cho người thuốc độc, hoặc làm đọa thai, trù ẻo cho chết, tự làm phương tiện, hoặc dạy người làm, chẳng phải sa môn Thích tử. Ví như cây kim bị sứt lỗ, không thể dùng lại được. Tỳ kheo cũng như thế, phạm pháp Ba la di không thể trở thành hạnh tỳ kheo, các vị suốt đời thọ trì không được làm, có thể giữ được không? Đáp: Giữ được.

Tất cả các vị không được vọng ngữ cho đến đùa cười (đùa cười nghĩa là học khẩu đầu thiền, diễn tập cơ phong chuyển ngữ). Nếu tỳ kheo chẳng phải chơn thật mình có, tự nói tôi được pháp thượng nhơn, được thiền, được giải thoát, được định, được tứ không định, được quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán, trời rồng quỉ thần đến cúng dường tôi. Người đó chẳng phải sa môn Thích tử, ví như tảng đá bị bể làm hai, trọn không thể nào ráp lại. Tỳ kheo cũng như thế, phạm pháp Ba la di không thể trở lại hạnh tỳ kheo được, các vị suốt đời thọ trì không được làm, có thể giữ được không? Đáp: Giữ được.

Trong 250 giới tướng của tỳ kheo, chỉ có bốn pháp Ba la di này gọi là căn bổn tội, không còn dư thừa (vô tàn). Nếu phạm thì không cho sám hối, liền phải diệt tẩn, cho nên trước hết phải tuyên nói liền, ngoài ra những giới khác là tội còn dư thừa (hữu tàn), nếu phạm thì cho sám hối. Thế nên có chút hưỡn đãi, đợi khi hạ đàn xong bảo phải đọc thuộc, cho nên bây giờ không tuyên nói.

THỨ 14 PHÁP THỌ TỨ Y.

Bấy giờ, gặp thời đói khát, đi khất thực khó được, có ngoại đạo tự xuất gia thọ giới, sau đó ở trong Tăng không có thức ăn liền thôi tu. Phật bảo, trước phải cho pháp tứ y, sau đó mới thọ giới. Lại có ngoại đạo xin Tăng xuất gia, trước nói pháp tứ y, sau đó liền đáp rằng: Con có thể kham nhận được nhị y, còn việc mặc áo bá nạp, và dùng thuốc hủ lạn thì không thể kham nhận, liền thôi tu. Phật dạy, ngoại đạo này có sự tổn thất lớn, từ nay trở đi sau khi trao pháp tứ y xong nên trao như thế này.

Hòa thượng vỗ xích nói:

Thiện nam tử lắng nghe, Như lai chí chơn đẳng chánh giác nói pháp tứ y, tỳ kheo nương theo đây mà được xuất gia, thọ giới cụ túc, thành pháp tỳ kheo. Tỳ kheo nương theo y phấn tảo, nương theo pháp này mà được xuất gia thọ giới cụ túc thành pháp tỳ kheo. Đối với pháp này suốt đời thọ trì được không? Đáp: Thọ trì được.

Nếu được lợi dưỡng, đàn việt thí y, y cắt rọc thì được thọ, trước chế ngăn, sau khai cho. Văn ở dưới đây giống nhau.

Tỳ kheo nương theo khất thực, tỳ kheo nương theo pháp này mà được xuất gia, thọ giới cụ túc thành pháp tỳ kheo. Trong pháp này suốt đời thọ trì được không? Đáp: Thọ trì được.

Nếu được nhiều lợi dưỡng, Tăng sai khất thực, đàn việt cúng thức ăn, ngày mùng 1, 8, 15 trong tháng thì đươc thọ. Hoặc Tăng thường nhận thức ăn, đàn việt thỉnh thức ăn thì được thọ.

Tỳ kheo nương theo gốc cây mà ngồi, tỳ kheo nương theo đây mà được xuất gia, thọ giới cụ túc, thành pháp tỳ kheo. Trong pháp này suốt đời thọ trì được không? Đáp: Thọ trì được.

Nếu được nhiều lợi dưỡng, hoặc được phòng nhà nóc nhọn, phòng nhỏ, hang đá, hai phòng chung một cửa thì được thọ.

Tỳ kheo nương theo pháp hủ lạn dược, tỳ kheo nương theo pháp này mà được xuất gia, thọ giới cụ túc, thành pháp tỳ kheo. Trong pháp này suốt đời thọ trì được không? Đáp: Thọ trì được.

Nếu được nhiều lợi dưỡng, tô, du, sanh tô, mật, thạch mật thì được thọ.

Nay tuyên nói về pháp thứ tư là y dược ở Tây vực, phương đông, cho đến cây cỏ, gốc cây, vỏ cây… tuy là luật chế từ nước Tây Vực, nhưng giáo pháp đã lưu truyền sang phương đông, thì nhất định phải theo sự sản sanh ở phong thổ. Thời dược thì được dùng, phàm là tỳ kheo nên tuỳ theo căn bệnh mà nhận thuốc, nếu có thuốc dư thì nên bỏ, đều gọi là thuốc hủ lạn. Nếu như đàn việt phát tâm bố thí tất cả thuốc bánh, đều được gọi là nhiều lợi dưỡng. Nếu không theo địa phương quốc độ đó thì chỉ là luống uổng, thọ trì vô ích vậy.

THỨ 15 KẾT KHUYẾN HỒI HƯỚNG.

Hòa thượng vỗ xích nói:

Các vị đã thọ giới rồi, bạch tứ yết ma như pháp thành tựu đắc xứ sở. Hòa thượng như pháp, A xà lê như pháp, chúng Tăng đủ số, vậy các vị nên khéo thọ trì giới pháp, phải nên khuyến hóa làm phước, tu tạo chùa tháp, cúng dường Phật pháp chúng Tăng, hòa thượng A xà lê tất cả như pháp Phật đã dạy, không được trái nghịch. Lại nên học hỏi tụng kinh, cần cầu phương tiện ở trong Phật pháp, được quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán, thì mới không luống uổng công đức phát tâm xuất gia, quả báo không dứt. Ngoài ra, còn những điều gì chưa biết thì nên hỏi hòa thượng A xà lê. Các vị nên đảnh lễ rồi hạ đàn (văn này được chép ra từ bổn luật).

Nếu như số giới tử đăng đàn nhiều, thì ba người thọ xong xuống đàn, bảo lên chánh điện lễ Phật phát nguyện, kiên trì giới phẩm, còn giáo thọ sư thì ở trên đàn để cho đủ số thập sư. Cho tuyên bạch tứ yết ma thành xong, các Sa di kia liền được giới cụ túc, sư lại xuống đàn, đi đến chỗ khuất hỏi nạn Sa di đàn thứ hai, hỏi xong cũng bạch như trước, rồi cho vào, mỗi đàn đều như vậy. Nếu như đang lúc bạch yết ma không đủ thập sư trên đàn, dù có yết ma thành, thì các Sa di kia cũng không đắc giới cụ túc. Cho đến lúc một đàn sau cùng thọ xong, dẫn lễ bảo những người đã thọ giới trước cùng nhau vân tập trước đàn, xếp hàng hai bên, đợi người thọ giới sau cùng xuống đàn xong.

Hòa thượng vỗ xích, thập sư đều đứng dậy, hòa thượng chắp tay hồi hướng rằng:

Đem công đức thọ giới cụ túc này, nguyện biển giới lắng trong, trừ sạch nghiệp cấu của chúng sanh, ruộng Tăng trong sạch, làm bến bờ mát mẻ cho đại địa. Bốn ân ba cõi đều đượm nhuần lợi ích, đại chúng đồng âm niệm Phật hồi hướng.

Đại chúng ở đàn hạ cùng nhau niệm Phật, chín vị giới sư ở đàn thượng xoay về hòa thượng đảnh lễ ba lạy xong, đứng qua hai bên, dẫn lễ bảo các tân tỳ kheo cùng nhau hướng về chư giới sư lạy ba lạy, đứng dậy phân ban, sau đó thập sư đi trước, hòa thượng đi cuối cùng, từ phía nam xuống bậc thứ hai, từ phía tây nam nhiễu đến phía đông xuống bậc thứ ba, mọi người đều mang giày đi nhiễu trước đàn lạy ba lạy.

Duy na cử bài kệ hồi hướng.

Đại chúng cùng hòa.

Thọ giới công đức thù thắng hạnh

Vô biên thắng phước giai hồi hướng

Phổ nguyện trầm nịch chư hữu tình

Tốc vãng vô lượng quang Phật sát

Thập phương tam thế nhứt thiết Phật

Chư tôn Bồ tát ma ha tát

Ma ha bát nhã ba la mật.

Thập sư lễ xong, sau khi đọc bài kệ hồi hướng rồi, hòa thượng đứng xoay về phía nam, chín vị giới sư cũng phân ra hai bên. Hai vị dẫn lễ đánh dẫn khánh đi song song nhau, các vị tân tỳ kheo thứ lớp theo sau đó. Khi đến trước phương trượng, hai hàng chắp tay đối diện quỳ xuống, đợi thập sư đi ngang qua, đứng dậy vẫn đi hai hàng đến trước tòa, đảnh lễ thập sư xong, từ từ theo thứ tự, mỗi người đều trở về chỗ, đợi các vị dẫn lễ và các vị dẫn tán hồi hướng xong, sau đó như pháp mà lễ tạ.

Sau đó chín vị giới sư đi xuống, lễ tạ hòa thượng mà lui ra.

Phật dạy, nên khiến cho người thọ giới cụ túc đi trước, như pháp làm đệ tử thường ngày, ba thời hỏi thăm hòa thượng sáng hôm, sớm mai, chiều tối, phải vì hòa thượng chấp tác hai việc, lao khổ không được từ chối:

Một là sửa sang phòng xá.

Hai là giặt, vá y phục.

Hòa thượng có dạy điều chi như pháp, suốt đời nên vâng làm, nếu trái thì trị như pháp.

Nhị đàn truyền giới chánh phạm.

TAM ĐÀN TRUYỀN THỌ BỒ TÁT GIỚI CHÁNH PHẠM.

Kinh Phạm Võng, giới 23 kiêu mạn không tận tâm dạy chép: “Sau khi Phật diệt độ, người phát tâm lành muốn thọ giới Bồ tát, thì ở trước hình tượng Phật Bồ tát, tự phát nguyện thọ giới, nên ở trước Phật sám hối bảy ngày, khi thấy tướng hảo thì liền đắc giới. Nếu lúc chưa thấy tướng hảo, dù ở trước hình tượng Phật để thọ giới thì không đắc giới. Nếu hiện tiền ở trước pháp sư thọ giới Bồ tát thì không cần phải thấy tướng hảo, vì cớ sao? Vì pháp sư đó là do các thầy truyền thọ cho nhau. Cho nên không cần phải thấy tướng hảo. Cho nên ở trước vị pháp sư đó thọ giới thì liền đắc giới, do sanh tâm chí thành thì liền đắc giới. Nếu ở trong 1000 dặm mà không có giới sư để truyền thọ thì được ở trước hình tượng Phật Bồ tát tự phát nguyện thọ giới, nhưng cần phải thấy tướng hảo”.

Trong Bồ tát Anh lạc bổn nguyện kinh, phẩm đại chúng thọ học chép: “Hàng Phật tử thọ giới có ba cách thọ.

1/ Ở trước chư Phật, Bồ tát hiện tại, được chơn thật thượng phẩm giới.

2/ Sau khi chư Phật, Bồ tát diệt độ, ở trong 1000 dặm có người trước kia đã thọ giới Bồ tát tự phát nguyện thọ, thỉnh làm pháp sư giáo thọ, người đệ tử ấy được chánh pháp giới, đó là trung phẩm giới.

3/ Chư Phật, Bồ tát sau khi diệt độ, ở trong 1000 dặm lúc không có pháp sư, nên ở trước hình tượng Phật, Bồ tát tự phát nguyện thọ giới, đó là hạ phẩm giới”.

Còn Phạm Võng đại bộ, 112 quyển, 61 phẩm, toàn văn chưa truyền đến phương đây, chỉ có phẩm Tâm Địa Thứ 10, lưu thông phụng trì, cho nên thiếu pháp thọ trước giới sư, đã nói rõ trong văn Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nguyện Kinh Và Di Lặc Bồ Tát Sở Thuyết Bồ Tát Yết Ma. Cho nên nay hội họp thêm phần lễ nghi noi theo để thực hành có căn cứ.

THỨ NHẤT NÓI RÕ PHÁP KẾT ĐÀN TRẢI TÒA.

Vào ngày thọ giới, trước hết ở điện Phật, giả như chúng đông thì ở trước điện Phật, hoặc trước thềm cũng được, nên treo tràng phang bảo cái, ở giữa thiết một tòa cao, cung thiết mười phương chư Phật là tôn chứng sư, Bồ tát Văn Thù là yết ma sư, Bồ tát Di Lặc là giáo thọ sư, mười phương Bồ tát là bạn đồng học. Phía bên phải thiết một tòa cao là nơi để thỉnh pháp sư Bồ tát giới, mỗi tòa được thiết lập nên đều dâng hương hoa cúng dường, đến giờ đánh kiền chùy, các vị dẫn lễ bảo tất cả những người thọ giới mang bát, cầm tọa cụ, thân đắp ba y đi vào trong điện (hoặc đến trước thềm), người thọ giới đến trước thầy dẫn lễ lạy ba lạy, phân ra hai bên đứng.

Dẫn lễ nói:

Này các Phật tử, nay vì các vị nghiêm tịnh đạo tràng, thiết lập pháp tòa, thọ Bồ tát Diệu Thiện Giới Pháp. Các vị trước phải tụng chú theo tôi để kết đàn, kế đến mới vào thất thỉnh sư.

Dẫn lễ bạch rồi, ở ngay giữa hướng về tòa, chắp tay vấn tấn xong, xoay người đi thuận theo bên phải cử chú Đại Bi, các người thọ giới… cùng nhau tụng lớn, mỗi người nương theo thứ tự đi theo sau, đi nhiễu ba vòng, ba lần tụng chú xong, dẫn lễ trở về vị trí của mình trước, người đi theo sau cũng căn cứ theo ban mà đứng.

Nam mô Cam lộ vương bồ tát (3 lần).

THỨ HAI NÓI RÕ PHÁP THỈNH SƯ VÀO TRONG GIỚI ĐÀN.

Phàm ở trong giới cùng ở trong đại Tăng, trước nghe đánh kiền chùy đều tập trung về phương trượng. Khi kết đàn xong, các vị dẫn lễ theo hai bên phải trái dẫn đi trước để ra khỏi đàn, chúng cầu xin giới thứ tự đi theo sau, tất cả đều đến phương trượng, xếp thành từng nhóm như thường lệ, hai vị dẫn lễ đem hai giới tử đi theo hai vị A xà lê, khi hai vị đến rồi thì tất cả giới tử lạy ba lạy, hai vị A xà lê lên bậc thềm cao mà đứng, bốn vị dẫn lễ ra ban, trước hết nên thông tri cho thị giả theo thứ tự vào trong trượng thất thỉnh sư, sư ra khỏi thất đi đến tòa ngồi, hai vị A xà lê hướng về pháp sư Bồ tát giới lạy ba lạy xong trở về chỗ cũ.

Dẫn lễ nói:

Các Phật tử, cùng nhau hướng về phía trước xếp hàng, nghe tiếng khánh chí thành lạy ba lạy, vén y cầm bát, lạy xong, quì gối chắp tay.

Nói đến Bồ tát giới, sự vốn phi thường, nương nhờ pháp sư mới khải phát. Trước Phật tự thệ nguyện, tướng hảo không lường, một khi gặp được minh sư thì liền gọi là đắc giới, nay vì các vị cung thỉnh mỗ giáp… đường thượng, mỗ giáp… luật sư vì các vị làm pháp sư Bồ tát giới. Lời thỉnh sư, các vị nên tự nói chung, nhưng sợ các vị chưa nói được, nên tôi nay dạy các vị. Mỗi người đều xưng pháp danh, xưng xong rồi còn những ngôn từ khác đều phải nói theo tôi. Trong kinh Bồ tát giới yết ma chép: “Nếu như có Bồ tát muốn học tam tụ tịnh giới, hoặc là tại gia, hoặc là xuất gia, ở trong vô thượng bồ đề phát lời thệ nguyện xong, xét cầu công đức đầy đủ, có trí có lực cùng pháp Bồ tát, trước hết lễ dưới chân, bày vai hữu, gối chấm đất, chắp tay cung kính, thỉnh bạch rằng:

Bạch Đại đức nhớ nghĩ, con mỗ giáp… nay ở nơi Đại đức, cầu xin tất cả tịnh giới Bồ tát, cúi xin chốc lát, không từ lao nhọc thương xót truyền trao. Lời thỉnh này chép ra từ kinh Di Lặc yết ma, thỉnh như thế ba lần, xá ba xá.

Bồ tát giới pháp sư nói.

Các Phật tử, các vị đã ân cần khải thỉnh, tôi nay nhận lời lâm đàn, noi theo đại thừa kinh luật, truyền thọ cho các vị.

Dẫn lễ nói:

Các Phật tử cùng nhau đứng lên, nghe tiếng khánh lạy ba lạy, vén y, cầm bát lạy rồi đứng dậy phân ban.

Đợi đại chúng đứng dậy ổn định xong, dẫn lễ đem hương đưa cho người đứng đầu cầm, Bồ tát giới pháp sư đứng dậy chắp tay cử.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Đại chúng nên xưng niệm danh hiệu Phật. Trong đàn cử pháp cổ, hai vị dẫn lễ đi đối xứng nhau, các vị cầm tràng phang đi trước, kế đến là chúng tùy hỉ, kế đến là chúng thọ giới, kế đến là dẫn lễ. Hai vị này cầm hai dẫn khánh, người cầm hương đi theo sau, hai vị Xà Lê đi kế, Bồ tát pháp sư đi sau chót, hai thị giả một người cầm bát, một người cầm tích trượng đi theo người cầm tràng phan để vào giới đàn, đến hai bên cao tòa dừng lại, đại chúng tùy hỉ cũng đi theo tràng phan, thứ lớp xếp hai hàng ổn định, người thọ giới thứ tự xếp hàng như thường lệ. Hai vị dẫn lễ đánh khánh phân ra hai bên, hai vị Xà Lê ở giữa đến trước cao tòa đối diện hai bên, pháp sư ở giữa trải tọa cụ, khởi quán đảnh lễ mười phương ba đời tam bảo chín lạy, bình bát tích trượng đứng ở sau.

Duy na cử bài kệ tập chúng.

Hàng phục ma lực oán

Trừ kết sạch vô dư

Nghe âm thanh mầu nầy

Tất cả nên vân tập.

Nam mô vân lai tập Bồ tát ma ha tát (3 lần).

Tiếng chuông lan xa tam thiên giới.

 Phật pháp hoằng dương muôn ức nơi.

Công huân đền ân sâu đế chúa.

Lợi ích đáp ơn dày thí chủ.

Nay vì các vị truyền trao Bồ tát tam tụ giới.

Cử bài kệ, lạy chín lạy xong.

Pháp sư trải tọa cụ thăng tòa niêm hương, vén y mà ngồi, hai vị A xà lê cũng như thế lạy chín lạy xong đến cao tòa của pháp sư đứng hai bên, bình bát tích trượng cầm đi ở phía sau pháp sư.

Dẫn lễ nói.

Đại chúng tùy hỉ, ra ban lễ Phật, đại chúng sửa đủ oai nghi, lễ Phật ba lạy xong, mỗi người y theo thứ lớp trở về chỗ cũ, dẫn lễ xướng:

Thượng hương (người cầm hương, từ từ chuyển vào giữa, cầm hương thuận theo bên phải đi đến trước Phật, quỳ dâng hương rồi trở về chỗ cũ).

Các Phật tử cùng xếp hàng hướng về phía trước, trải tọa cụ, nghe tiếng khánh lạy ba lạy, vén y, giữ bát, lạy xong quì gối chắp tay.

THỨ BA NÓI RÕ PHÁP LỄ KÍNH TAM BẢO.

Bồ Tát Yết Ma kinh chép: “Đã theo thứ tự thỉnh như thế xong, bày vai áo bên phải, cung kính lễ bái cúng dường mười phương ba đời chư Phật Thế tôn , đã vào đại địa được đại trí huệ, đại thần thông, các chúng Bồ tát, hiện tiền chuyên niệm các công đức ấy, sanh lòng ân trọng thanh tịnh”.

Lại nữa, trong kinh Anh Lạc chép: “Nếu người thiện nam, kẻ thiện nữ sắp đến lúc thọ giới, trước hết phải:

 Đảnh lễ tất cả chư Phật ở quá khứ thế, tận quá khứ tế.

Đảnh lễ tất cả chư Phật ở vị lai thế, tận vị lai tế.

Đảnh lễ tất cả chư Phật ở hiện tại thế, tận hiện tại tế.

 Lạy ba lần như thế xong, đảnh lễ Pháp, đảnh lễ Tăng cũng như vậy.

Dẫn lễ nói:

Các Phật tử, các vị đã phát tâm thù thắng, cầu thọ tịnh giới Bồ tát rồi phải nên tác quán vận tâm, theo lời tôi mà đảnh lễ mười phương tam bảo, mỗi người tự xưng pháp danh của mình, xưng xong đứng dậy chắp ta y, dẫn lễ hai bên, hoặc tám, hoặc sáu, hoặc bốn người, đối diện đi đến ở giữa, đứng xếp thành một hàng, trải tọa cụ, nhập quán đảnh lễ, chắp tay khởi xướng.

- Nhất tâm đảnh lễ quá khứ thế, tận quá khứ tế nhất thiết chư Phật.

Các vị thọ giới nhất định phải đồng thinh lễ tất cả, chớ để thân khẩu buông lung, tâm ý tán loạn.

- Nhất tâm đảnh lễ vị lai thế, tận vị lai tế nhất thiết chư Phật.

- Nhất tâm đảnh lễ hiện tại thế, tận hiện tại tế nhất thiết chư Phật.

- Nhất tâm đảnh lễ quá khứ thế, tận quá khứ tế nhất thiết tôn Pháp.

- Nhất tâm đảnh lễ vị lai thế, tận vị lai tế nhất thiết tôn Pháp.

- Nhất tâm đảnh lễ hiện tại thế, tận hiện tại tế nhất thiết tôn Pháp.

- Nhất tâm đảnh lễ quá khứ thế, tận quá khứ tế nhất thiết hiền thánh.

- Nhất tâm đảnh lễ vị lai thế, tận vị lai tế nhất thiết hiền thánh.

- Nhất tâm đảnh lễ hiện tại thế, tận hiện tại tế nhất thiết hiền thánh.

THỨ TƯ NÓI RÕ PHÁP THỈNH SƯ.

Kinh yết ma chép: “Người thọ giới Bồ tát lại ở trong chỗ Bồ tát có trí lực khiêm hạ, cung kính, đầu gối chấm đất, đối trước tượng Phật chắp tay thỉnh rằng (tức là lời thỉnh ở sau vậy). Thế nên lễ tam bảo xong, các người thọ giới đều quỳ gối chắp tay, các vị dẫn lễ xếp tọa cụ trở về chỗ cũ, chỉ một vị dẫn lễ ở lại, đứng trước Phật dạy rằng:

Các Phật tử, bây giờ các vị đối trước tượng Phật, nói theo lời tôi, chí thành thỉnh pháp sư Bồ tát giới.

Cúi xin Đại đức thương xót, trao cho chúng con tịnh giới.

Nói như thế xong, tất cả đều cúi đầu, các vị dẫn lễ trở lại chỗ cũ.

Trong Bồ Tát Yết Ma kinh chép:

“Thỉnh như thế xong, chuyên tâm vào một cảnh, trưởng dưỡng tịnh tâm, con nay không bao lâu nữa sẽ được vô tận vô lượng, vô thượng đại công đức tạng, liền tư duy sự nghĩa như thế im lặng mà đứng. Bấy giờ pháp sư Bồ tát giới nên vỗ xích hỏi rằng:

Các Phật tử lắng nghe, các vị có phải Bồ tát không?

Đại chúng đều đáp: Phải là Bồ tát.

Sư lại nói: Là Bồ tát, vậy các vị phát bồ đề tâm chưa?

Đáp: Đã phát bồ đề tâm.

THỨ NĂM NÓI RÕ PHÁP KHAI ĐẠO.

Bồ tát giới sư vỗ xích nói:

Các Phật tử lắng nghe, hôm nay các vị muốn ở nơi tôi nhận tất cả học xứ của Bồ tát, thọ tất cả tịnh giới Bồ tát, nghĩa là:

Nhiếp luật nghi giới (10 Ba la di tức là chỉ ác).

Nhiếp thiện pháp giới (tám ngàn bốn vạn pháp môn tức là hành thiện).

Nhiêu ích hữu tình giới (từ bi, hỉ xả, tức là độ sanh). Những học xứ như thế, tịnh giới như thế, tất cả Bồ tát quá khứ đã đủ, tất cả Bồ tát vị lai sẽ đủ, tất cả mười phương Bồ tát hiện tại đương đủ.

Những học xứ như thế, tịnh giới như thế, quá khứ tất cả Bồ tát đã học, tất cả Bồ tát vị lai sẽ học, khắp tất cả mười phương hiện tại Bồ tát nay đương học. Vậy các vị có thể thọ trì không?

Đại chúng đáp: Có thể thọ trì.

Hỏi đáp như thế ba lần xong, văn này chép ra trong yết ma kinh.

THỨ SÁU NÓI RÕ THỈNH PHÁP THỈNH THÁNH.

Pháp sư Bồ tát giới sư vỗ xích bạch rằng:

Này các Phật tử, các vị đã được thọ tịnh giới Bồ tát rồi, được học học xứ của Bồ tát. Vậy các vị cùng nhau đứng dậy chắp tay nhất tâm, năm vóc sát đất, nói theo tôi để cung thỉnh Phật Bồ tát làm hòa thượng và các giới sư Bồ tát giới. Mỗi người nên tự xưng pháp danh mình, xưng rồi, pháp sư đứng dậy niêm hương, nhập quán khởi xướng. Hai vị A xà lê đồng âm thỉnh rằng: Hương hoa nghinh, hương hoa thỉnh, tỳ kheo mỗ giáp… nay thỉnh Như lai làm hòa thượng đắc giới, cúi mong Như lai vì con làm hòa thượng đắc giới. Con nương theo Như lai được thọ Bồ tát tam tụ thập vô tận thanh tịnh giới, xin từ mẫn, nên khải thỉnh ba lần, đảnh lễ ba lạy, văn sau cũng giống vậy.

Hương hoa nghinh, hương hoa thỉnh, tỳ kheo mỗ giáp… một lòng phụng thỉnh (thêm tên vào cũng giống như trước).

- Bạch Đại đức Di Lặc Bồ tát, một lòng nghĩ, con mỗ giáp… nay thỉnh Bồ tát vì con làm giáo thọ A xà lê, cúi xin Bồ tát vì con làm giáo thọ A xà lê. Con nương theo Bồ tát, được thọ Bồ tát tam tụ thập vô tận thanh tịnh giới, xin thương xót cho.

Hương hoa nghinh, hương hoa thỉnh, tỳ kheo mỗ giáp… một lòng phụng thỉnh (thêm tên vào cũng giống như trước).

Đại đức mười phương tất cả Bồ tát ma ha tát, một lòng nghĩ, con mỗ giáp… nay thỉnh Bồ tát vì con làm bạn đồng học, con nương theo Bồ tát được thọ Bồ tát tam tụ thập vô tận thanh tịnh giới, xin thương xót cho.

Niêm hương như thế, tất cả đều thỉnh ba lần xong, giới sư đến tòa ngồi, dẫn lễ bảo đại chúng quỳ gối chắp tay.

THỨ BẢY THỌ TỨ BẤT HOẠI TÍN.

Bồ tát giới sư vỗ xích nói:

Kinh Anh Lạc chép: “Lễ tam bảo xong, lại dạy thọ tứ bất hoại tín, nương vào pháp tứ y”. Gọi tứ bất hoại tín là:

Bởi vì thể tánh chúng ta là một, mà trong cái thể này có đầy đủ Phật Pháp Tăng bảo và giới.

Tiếng Phạn gọi là Phật đà, Trung Hoa dịch là giác, nghĩa là thể tánh linh giác chiếu rõ, các pháp vốn chẳng phải là không, chẳng phải là có. Thế gọi là vốn đủ Phật bảo.

Pháp tức là quỉ trì, nghĩa là pháp tánh tịch diệt, mà hằng sa tánh đức đều được duy trì theo khuôn phép. Thế gọi là Pháp bảo.

Tăng tiếng Phạn gọi đủ là Tăng già, Trung Hoa gọi là hòa hợp chúng, nghĩa là hằng sa diệu đức tánh tướng bất nhị, lý sự hòa họp. Thế gọi là vốn đầy đủ Tăng bảo.

Giới là kim cang quang minh bảo giới, là bổn nguyện của tất cả Bồ tát, là chủng tử Phật tánh của tất cả chúng sanh. Thế gọi là vốn đủ tánh giới.

Các vị từ nay tin được tự tâm là Phật, là Pháp, là Tăng, là Giới. Suốt đến đời vị lai thân không quên không mất, cho nên gọi là tứ bất hoại tín. Tuy nói rằng thể đầy đủ chơn thường, đâu chẳng tu chứng, cho nên gọi là tâm làm nên Phật, tâm ấy là Phật, nhưng cần phải qui hướng về trụ trì tam bảo, nạp thọ thanh tịnh diệu giới, nương theo đó mà tu hành, như thế mới được viên thành vô thượng Phật quả. Nay đối trước tòa chư Phật, Bồ tát, tất cả nghe kỹ tiếp nhận lời quy y, lẽ ra các vị phải tự nói, nhưng e rằng các vị chưa rành, nên nói theo tôi.

Con mỗ giáp… từ nay đến thân đời vị lai quy y Phật.

Con mỗ giáp… từ nay đến thân đời vị lai quy y Pháp.

Con mỗ giáp… từ nay đến thân đời vị lai quy y Tăng.

Con mỗ giáp… từ lúc này, suốt đến thân đời vị lai quy y giới.

Tất cả đều nói rõ ràng theo giới sư, ba lần thọ nhận ba lần cúi đầu.

THỨ TÁM PHÁP SÁM HỐI LỖI LẦM.

Bồ tát giới sư vỗ xích nói:

Các Phật tử, như kinh Phạm Võng đã nói rõ: “Hiện đời có phạm tội thất nghịch thì không được thọ giới”. Đêm trước Yết ma sư đã từng xét hỏi kỹ càng, các vị may mắn đều không có phạm cho nên được thọ giới. Nay căn cứ theo kinh Anh Lạc chép: “Thọ tứ bất hoại tín rồi, kế đến nên dạy sám hối tội lỗi trong ba đời”. Mà tội ba đời ở đây là nói: Vô minh chủng tử đời quá khứ là nguyên nhân của tội nghiệp. Nay sanh hiện hành là duyên của tội nghiệp, do chủng tử nghiệp hiện hành này huân tập từ quá khứ vô thỉ đến nay, khi nhân duyên hòa họp thì tạo tác thành nghiệp. Lại làm các nguyên nhân ác của tội nghiệp ở đời vị lai xoay vần giúp nhau như thế, cho nên khiến luân hồi không dứt. Nay nương nhờ trước chư Phật Bồ tát, hổ thẹn sám hối. Nếu hay trái với hiện hành của đời này, thì hạt giống nghiệp ở đời quá khứ sẽ khô héo, nghiệp nhân ở đời vị lai tự tiêu diệt. Lời sám hối lẽ ra các vị nên tự nói, nhưng e rằng các vị chưa rành, nên nói theo tôi.

Con mỗ giáp… hoặc thân khẩu ý quá khứ đã tạo nên mười tội ác, nguyện rốt ráo không khởi nữa, tột đến đời vị lai.

Con mỗ giáp… hoặc hiện đời thân khẩu ý tạo ra mười tội ác, nguyện rốt ráo không khởi nữa, tột đến đời vị lai.

Con mỗ giáp… hoặc đời vị lai thân khẩu ý tạo ra mười tội ác, nguyện rốt ráo không khởi nữa, tột đến đời vị lai.

Mỗi vị nên nói rõ ràng theo giới sư.

Sám hối ba lần, cúi đầu ba lần.

THỨ CHÍN NÓI RÕ PHÁP PHÁT NGUYỆN.

Hai kinh Anh Lạc và Yết Ma nói:

“Vì thiếu phát nguyện, nên nay lúc chọn lựa trong giới bổn, phát 14 lời nguyện để thêm vào.

Bồ tát giới sư vỗ xích nói rằng:

Các Phật tử, sám hối rồi, ba nghiệp được thanh tịnh như chất tịnh lưu ly, trong ngoài sáng suốt. Kế đến nên phát 14 lời đại nguyện, nương theo đây mà tu hành công đức viên mãn. Giả như vòng lửa nóng xoay ở trên đảnh đầu, trọn không vì nỗi khổ này mà thối thất lời phát nguyện. Tôi nay đối trước chư Phật, Bồ tát, tất cả vì các vị ba lần tuyên nói, các vị nên hướng đến chư Phật, Bồ tát tâm nghĩ miệng nói, tất cả đều tự nói, đều xưng pháp danh, xưng rồi vỗ xích một tiếng.

Thứ nhất các vị từ lúc này tột đến đời vị lai, thường hay niệm Phật, hay thân cận thiện tri thức không?

Đáp: Thân cận được.

Thứ hai các vị từ lúc này tột đến đời vị lai, thường hay xả bỏ các ác tri thức không?

Đáp: Xả bỏ được.

Thứ ba các vị từ lúc này tột đến đời vị lai, cho đến nhân duyên mất mạng, không được phạm giới được không?

Đáp: Không phạm.

Thứ tư các vị từ lúc này tột đến đời vị lai, thường hay đọc tụng kinh luật đại thừa, hỏi nghĩa thâm sâu được không?

Đáp: Hỏi được.

Thứ năm các vị từ lúc này tột đến đời vị lai, thường hay ở trong vô thượng bồ đề sanh tín tâm không?

Đáp: Sanh được.

Thứ sáu các vị từ lúc này tột đến đời vị lai, nếu thấy chúng sanh khổ não phát tâm cứu hộ được không?

Đáp: Cứu hộ được.

Thứ bảy các vị từ lúc này tột đến đời vị lai, thường hay tùy theo sức mình cúng dường tam bảo được không?

Đáp: Cúng dường được.

Thứ tám các vị từ lúc này tột đến đời vị lai, thường hay hiếu thuận cha mẹ, kính thờ sư trưởng không?

 Đáp: Hiếu kính được.

Thứ chín các vị từ lúc này tột đến đời vị lai, thường hay xả bỏ lười biếng, siêng năng cần cầu Phật đạo không?

Đáp: Cần cầu được.

Thứ mười các vị từ lúc này tột đến đời vị lai, ở trong năm trần, lúc các phiền não sanh, hay chế phục tâm được không?

Đáp: Hay chế phục tâm được.

Thứ mười một các vị từ lúc này tột đến đời vị lai, chúng sanh vô biện thề nguyện độ, các vị độ được không?

Đáp: Độ được.

Thứ mười hai các vị từ lúc này tột đến đời vị lai, phiền não vô tận thề nguyẹn đoạn, các vị đoạn được không?

Thứ mười ba các vị từ lúc này tột đến đời vị lai, pháp môn vô tận thề nguyẹn học, các vị học được không?

Đáp: Học được.

Thứ mười bốn các vị từ lúc này tột đến đời vị lai, Phật đạo vô thượng thề nguyện thành, các vị thành được không?

Đáp: Thành được.

THỨ MƯỜI NÓI RÕ PHÁP PHÁT GIỚI THỂ.

Bồ tát giới sư vỗ xích nói.

Các Phật tử, các vị đã phát 14 lời thệ nguyện rộng sâu xong rồi, ta sẽ vì các vị đảnh lễ khải bạch mười phương hiện tiền chư Phật và chư Bồ tát cảm phát cho các vị viên tông giới thể. Các vị nên nhất tâm lắng nghe, tác ý tư duy, nên biết lúc tôi bẩm bạch yết ma lần đầu thì mười phương thế giới diệu thiện giới pháp, do nghiệp lực của tâm, thảy đều chấn động. Khi tôi bẩm bạch yết ma lần thứ hai vừa xong, thì mười phương thế giới diệu thiện giới pháp như mây như bảo cái che trên đảnh đầu các vị. Khi tôi bẩm bạch yết ma lần thứ ba xong, thì mười phương thế giới diệu thiện giới pháp từ trên đảnh môn chảy vào thân tâm, đầy khắp chánh báo, mãi mãi làm hạt giống Phật cho đến đời vị lai, đây là vô tác giới thể, vô lậu sắc pháp, do tăng thượng thiện tâm của các vị mà cảm vời ra. Vì vậy, các vị nên chí thành đảnh thọ.

KẾ ĐẾN LÀ PHÁP CHÁNH THỌ GIỚI THỂ.

Kinh chép: Người cầu thọ Bồ tát không đứng ở tòa cao, mà quỳ thẳng như trước, người trao Bồ tát khởi toà, đối trước hình tượng Phật, khắp ở mười phương hiện tiền chư Phật và Bồ tát, cung kính cúng dường đảnh lễ dưới chân rồi tác bạch (bạch theo văn sau). Nay căn cứ theo nghĩa mà thêm vào phần nghi thức. Hai vị A xà lê xuống tòa đi trước, Bồ tát giới sư đi sau, đến chỗ tượng Phật, hai sư phân lập hai bên, giới sư ở giữa niêm hương, nhập quán đảnh lễ, quỳ thẳng chắp tay bạch rằng:

Ngưỡng khải mười phương vô biên tế trong các thế giới chư Phật Bồ tát, nay ở mỗ tỉnh… mỗ tự… trong đây hiện có mỗ giáp… Bồ tát. Cho đến ba lần nói thọ Bồ tát giới, con làm chứng, cúi mong mười phương vô biên tế trong các thế giới chư Phật Bồ tát, đệ nhất chơn thánh ở hiện tại mà không hiện, tất cả thời xứ, tất cả hữu tình đều hiện giác, ở mỗ giáp… thọ giới Bồ tát cũng làm chứng, xin từ mẫn cố, đại từ mẫn cố.

Căn cứ theo kinh văn này, bạch ba lần như thế, nghĩa là ba phen yết ma, yết ma như pháp thành rồi, người thọ liền đắc giới, giới sư cùng hai sư lễ bổn tòa, chẳng giống như pháp chư Tăng thọ cụ, thập sư đều ngồi, yết ma sẽ thành tựu.

THỨ 11 NÓI RÕ VỀ VIỆC TUYÊN NÓI GIỚI TƯỚNG.

Trên y cứ vào Bồ Tát Yết Ma kinh văn, ba lần khải bạch thánh xong, liền được ba tụ Bồ tát diệu thiện giới thể. Đây là nương vào trong kinh Phạm Võng, kế đến tuyên nói mười giới trọng của Bồ tát, 48 giới khinh để biết giới tướng mà giữ gìn, để hộ trì giới thể.

Bồ tát giới sư vỗ xích bạch.

Các Phật tử, Bồ tát có mười vô tận giới nên thọ trì, mỗi người đều xưng pháp danh, (xưng xong nói mười vô tận giới).

 Kinh Anh Lạc chép: Tất cả Bồ tát phàm thánh giới, tận tâm là thể. Thế nên tâm cũng tận, giới cũng tận, vì tâm vô tận nên giới vô tận, cho nên nói vô tận giới vậy.

Các Phật tử, từ thân này cho đến thân Phật, trung gian tột đến đời vị lai.

1. Không được cố sát sanh, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, mất 42 pháp hiền thánh, giới không sát sanh các vị có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

Các Phật tử, từ thân này cho đến thân Phật, trung gian tột đến đời vị lai.

2. Không được trộm cắp, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, mất 42 pháp hiền thánh, giới không trộm cắp có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

Các Phật tử, từ thân này cho đến thân Phật, trung gian tột đến đời vị lai.

3. Không được dâm dục, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, mất 42 pháp hiền thánh, giới không dâm dục giữ được không?

Đáp giữ được.

Các Phật tử, từ thân này cho đến thân Phật, trung gian tột đến đời vị lai.

4. Không được cố vọng ngữ, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, mất 42 pháp hiền thánh, giới không vọng ngữ giữ được không?

Đáp: Giữ được.

Các Phật tử, từ thân này cho đến thân Phật, trung gian tột đến đời vị lai.

5. Không được cố bán rượu, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, mất 42 pháp hiền thánh, giới không bán rượu giữ được không?

Đáp: Giữ được.

Các Phật tử, từ thân này cho đến thân Phật, trung gian tột đến đời vị lai.

6. Không được cố nói lỗi người Bồ tát tại gia, xuất gia, tỳ kheo, tỳ kheo ni, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, mất 42 pháp hiền thánh, giới không nói bốn loại lỗi lầm giữ được không?

Đáp: Giữ được.

Các Phật tử, từ thân này cho đến thân Phật, trung gian tột đến đời vị lai.

7. Không được cố khen chê người, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, mất 42 pháp hiền thánh, giới không tự khen chê người có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

Các Phật tử, từ thân này cho đến thân Phật, trung gian tột đến đời vị lai.

8. Không được xan tiếc lại thêm huỷ nhục, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, mất 42 pháp hiền thánh, giới không xan tiếc lại thêm huỷ nhục, có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

Các Phật tử, từ thân này cho đến thân Phật, trung gian tột đến đời vị lai.

9. Không được cố sân hận  không sám hối, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, mất 42 pháp hiền thánh, giới không nhận sám hối có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

Các Phật tử, từ thân này cho đến thân Phật, trung gian tột đến đời vị lai.

10. Không được cố hủy báng tam bảo, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, mất 42 pháp hiền thánh, giới không được hủy báng tam bảo có giữ được không?

Đáp: Giữ được.

Các Phật tử đã nói 10 Ba la đề mộc xoa xong, còn 48 giới khinh giờ sẽ nói.

Vỗ xích nói:

Các Phật tử, từ thân này cho đến thân Phật, trung gian tột đến đời vị lai.

1. Không được cố ý không kính thầy bạn, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không kính thầy bạn có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

2. Không được cố uống rượu, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không uống rượu có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

3. Không được cố ăn thịt, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không ăn thịt có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

4. Không được ăn ngũ tân, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới ăn ngũ tân giữ được không?

Đáp: Giữ được.

5. Không được cố dạy người không sám hối, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, không dạy người sám tội có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

6.  Không được cố không cung cấp thỉnh pháp, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không cung cấp thỉnh pháp có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

7. Không được cố giải đãi không nghe pháp, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới giải đãi không nghe pháp giữ được không?

Đáp: Giữ được.

8. Không được cố trái đại hướng tiểu, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không trái đại hướng tiểu có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

9. Không được cố không thăm bệnh, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không thăm bệnh có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

10. Không được chứa khí cụ sát sanh, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không chứa khí cụ sát sanh giữ được không?

Đáp: Giữ được.

11. Không được cố đi sứ, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được cố đi sứ giữ được không?

Đáp: Giữ được.

12. Không được cố buôn bán, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không mua bán có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

13. Không được cố hủy báng, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không hủy báng có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

14. Không được phóng hỏa thiêu đốt, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không phóng hỏa thiêu đốt giữ được không?

Đáp: Giữ được.

15. Không được cố dạy giáo lý ngoài đại thừa, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không dạy giáo lý ngoài đại thừa giữ được không?

Đáp: Giữ được.

16. Không được vì lợi dưỡng giảng pháp đảo lộn, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không vì lợi mà nói pháp đảo lộn giữ được không?

Đáp: Giữ được.

17. Không được cố cậy thế lực cầu xin, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không cậy thế lực cầu xin giữ được không?

Đáp: Giữ được.

18. Không được không hiểu biết mà làm thầy, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không hiểu biết mà làm thầy giữ được không?

Đáp: Giữ được.

19. Không được cố nói hai lưỡi, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không nói hai lưỡi giữ giữ được không?

Đáp: Giữ được.

20. Không được không phóng sanh, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được không phóng sanh giữ được không?

Đáp: Giữ được.

21. Không được đem sân báo sân, đem đánh trả đánh, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được đem sân báo sân, đem đánh trả đánh, có thể giữ được không?

Đáp: Giữ được.

22. Không được kiêu mạn không thỉnh pháp, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được kiêu mạn không thỉnh pháp giữ được không?

Đáp: Giữ được.

23. Không được kiêu mạn không tận tâm dạy, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được kiêu mạn không tận tâm dạy giữ được không?

Đáp: Giữ được.

24. Không được cố không học Phật, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không học Phật giữ được không?

Đáp: Giữ được.

25. Không được cố không khéo tri chúng, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không khéo tri chúng giữ được không?

Đáp: Giữ được.

26. Không được riêng thọ lợi dưỡng, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được riêng thọ lợi dưỡng giữ được không?

Đáp: Giữ được.

27. Không được cố thọ biệt thỉnh, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không thọ biệt thỉnh giữ được không?

Đáp: Giữ được.

28. Không được biệt thỉnh Tăng, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới biệt thỉnh Tăng giữ được không?

Đáp: Giữ được.

29. Không được cố tà mạng biệt thỉnh Tăng, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới sống tà mạng Tăng giữ được không?

Đáp: Giữ được.

30. Không được không kính thời tốt, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không kính thời tốt giữ được không?

Đáp: Giữ được.

31. Không được mua chuộc, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được mua chuộc giữ được không?

Đáp: Giữ được.

32. Không được cố tổn hại chúng sanh, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không tổn hại chúng sanh giữ được không?

Đáp: Giữ được.

33. Không được tà nghiệp giác quán, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không tà nghiệp giác quán giữ được không?

Đáp: Giữ được.

34. Không được tạm nhớ nghĩ tiểu thừa, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới nhớ nghĩ tiểu thừa giữ được không?

Đáp: Giữ được.

35. Không được cố không phát nguyện kính thời tốt, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không phát nguyện giữ được không?

Đáp: Giữ được.

36. Không được không phát thệ, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới phát thệ giữ được không?

Đáp: Giữ được.

37. Không được du hành chỗ hiểm nạn, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được du hành chỗ hiểm nạn giữ được không?

Đáp: Giữ được.

38. Không được trái thứ tự tôn ty, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được trái thứ tự giữ được không?

Đáp: Giữ được.

39. Không được cố không tu phước huệ, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được cố không tu phước huệ giữ được không?

Đáp: Giữ được.

40. Không được không bình đẳng truyền giới, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được không bình đẳng truyền giới giữ được không?

Đáp: Giữ được.

41. Không được vì lợi làm thầy, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được vì lợi làm thầy giữ được không?

Đáp: Giữ được.

42. Không được nói giới cho kẻ ác nghe, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được nói giới cho kẻ ác nghe giữ được không?

Đáp: Giữ được.

43. Không tàm quí thọ thí, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không tàm quí thọ thí giữ được không?

Đáp: Giữ được.

44. Không được cố không cúng dường kinh luật, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được cố không cúng dường kinh luật giữ được không?

Đáp: Giữ được.

45. Không được cố không giáo hóa chúng sanh, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được cố không giáo hóa chúng sanh giữ được không?

Đáp: Giữ được.

46. Không được cố nói pháp không đúng pháp, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được cố nói pháp không đúng pháp giữ được không?

Đáp: Giữ được.

47. Không được cố hạn chế phi pháp, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được cố hạn chế phi pháp giữ được không?

Đáp: Giữ được.

48. Không được cố phá hoại Phật pháp, nếu có phạm chẳng phải hạnh của Bồ tát, giới không được cố phá hoại Phật pháp giữ được không?

Đáp: Giữ được.

THỨ 12 KẾT TÁN HỒI HƯỚNG.

Kinh Anh Lạc chép: “Phật tử thọ mười vô tận giới rồi, người thọ trì vượt qua bốn ma, thoát khỏi nỗi khổ trong ba cõi, đời đời kiếp kiếp không mất giới  này, thường theo hành nhơn cho đến khi thành Phật. Lại nữa, kinh chép: “Người thọ giới Bồ tát liền trong một niệm nơi thân này đầy đủ tám loại công đức thù thắng.

1. Đến đạo tràng thù thắng, ví như chim đại bàng một lần vỗ cánh là vượt qua mười vạn dặm, Bồ tát phát tâm thọ đại giới này vượt qua sáu nẻo ba thừa, thẳng đến bồ đề.

2. Phát tâm thù thắng, nếu người ở trong một niệm phát khởi đại bi, đại trí thọ giới Bồ tát, thì liền vượt qua hai thừa. Như xưa có Sa di đi hầu bên vị La hán, chợt phát bồ đề tâm cầu thọ giới Bồ tát, vị A la hán này lại khởi tâm cung kính, liền mang y bát nhường lộ mà đi.

3. Phước điền thù thắng, giả sử có người cúng dường A la hán đầy cả khắp Diêm Phù Đề, không như cúng dường một vị thọ giới Bồ tát, do vị ấy vận tâm rộng lớn.

4. Công lực thù thắng, người thọ giới tiểu thừa ví như lửa đom đóm, còn thọ giới Bồ tát ví như ánh sáng mặt trời chiếu khắp tất cả.

5. Diệt tội thù thắng, người thọ giới nếu lỡ có phá phạm  còn vẫn hơn ngoại đạo, do vì oai lực của giới, giả như bị đọa vào ác đạo thọ tội vẫn nhẹ.

6. Thọ thai thù thắng, người thọ Bồ tát giới nếu ở bào thai thường được thiên long thiện thần thủ hộ.

7. Thần thông thù thắng, người thọ Bồ tát giới hay biến khuấy sông dài thành tô lạc, biến đại địa thành vàng ròng, trong một niệm vượt hơn 1000 đời, trong một ngày rộng độ chúng sanh.

8. Quả báo thù thắng, người thọ Bồ tát giới hiện đời trong biển liên hoa tạng, thọ thân pháp tánh, một khi được chơn thường, mãi không còn thoái chuyển. Cho nên Phật tử, các vị đã thọ giới Bồ tát rồi, liền được công đức thù thắng như thế. Các vị mỗi người đều khéo hộ trì, trong sáu thời ngày đêm đi đứng ngồi nằm, đọc tụng giới này, giống như kim cang, như đeo phao nổi để vượt biển lớn, như cỏ buộc tỳ kheo, thường sanh đại thừa thiện tín, tự biết ta là Phật sẽ thành, chư Phật là Phật đã thành, phát tâm bồ đề, niệm niệm không bỏ tâm, nếu khởi một tâm niệm nhị thừa thì liền chẳng phải là Bồ tát. Thế nên, phải trân kính, cẩn thận chớ có lui sụt.

Kết khuyên như thế xong rồi, vỗ một tiếng xích, đại chúng đều cúi đầu, Bồ tát giới sư đứng dậy chắp tay hồi hướng rằng:

Đem công đức thọ giới này

Trê báo bốn ân

Dưới giúp các khổ

Pháp giới chúng sanh

Đều tròn chủng trí

Sa môn trên hội

Cùng chứng bồ đề

Hải chúng đồng âm

Niệm Phật hồi hướng.

Đại chúng đồng thanh niệm Phật, dẫn lễ xướng, các vị mới thọ giới Bồ tát lạy ba lạy, thâu toạ cụ, phân ban, hai vị A xà lê xuống tòa trước, vào giữa lạy Phật ba lạy, đứng hai bên Phật tòa.

Bồ tát giới sư xuống tòa lạy Phật ba lạy.

Duy Na cử bài kệ hồi hướng, đại chúng cùng hòa.

Thọ giới côn gđức thù thắng hạnh

Vô biên thắng phước giai hồi hướng

Phổ nguyện trầm nịch chư hữu tình

Tốc vãng vô biên quang Phật sát

Hồi hướng nhơn duyên tam thế Phật

Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Tự Tại

Chư tôn Bồ tát ma ha tát

Ma ha bát nhã ba la mật.

Đưa tiễn Bồ tát giới sư trở về phương trượng, lễ tạ hai thầy và các vị dẫn lễ, tất cả đều giống như nghi thức thọ cụ túc giới, nay đại thừa giới bảy chúng đồng thâu. Nếu có tỳ kheo ni, thức xoa ma na, sa di, sa di ni, ưu bà tắc, ưu bà di, đều cùng nhau đưa tiễn giới sư, nhưng cần phải chúng nào về chúng đó, không được lộn lạo. Trong lý tánh giới thể không hai, nhưng sự tướng nghi tắc ở đời phải phân biệt, hay khéo giữ gìn sự chê gièm, thì gọi là trì giới vậy.

Nếu trao cho tại gia ưu bà tắc sáu giới trọng, hai mươi tám giới khinh, khoa nghi giống như đây, chỉ có khác phần giới tướng, cho nên phụ thêm như sau.

Trước hết nói về sáu giới trọng:

1. Không sát sanh là giới của ưu bà tắc, nếu có phạm thì chẳng phải là Bồ tát hạnh, giới không sát sanh giữ được không? Đáp giữ được.

2. Không trộm cắp là giới của ưu bà tắc, nếu có phạm thì chẳng phải là Bồ tát hạnh, giới không trộm cắp giữ được không? Đáp giữ được.

3. Không nói lời hư dối là giới của ưu bà tắc, nếu có phạm thì chẳng phải là Bồ tát hạnh, giới không nói lời hư dối giữ được không? Đáp giữ được.

4. Không tà dâm là giới của ưu bà tắc, nếu có phạm thì chẳng phải là Bồ tát hạnh, giới không tà dâm giữ được không? Đáp giữ được.

5. Không nói lỗi của bốn chúng là giới của ưu bà tắc, nếu có phạm thì chẳng phải là Bồ tát hạnh, giới không nói lỗi của bốn chúng giữ được không? Đáp giữ được.

6. Không bán rượu là giới của ưu bà tắc, nếu có phạm thì chẳng phải là Bồ tát hạnh, giới không bán rượu giữ được không? Đáp giữ được.

Hai mươi tám giới khinh:

1. Không lo cúng dường cha mẹ, sư trưởng là giới của ưu bà tắc, nếu có phạm thì chẳng phải là Bồ tát hạnh, giới không cúng dường cha mẹ, sư trưởng giữ được không? Đáp giữ được.

2. Đam mê uống rượu (như trước).

3. Ác tâm không chăm sóc người bệnh (như trước).

4. Có người xin, không thể nhiều ít chia cho khiến đi không về không (như trước).

5. Thấy bốn chúng không nghinh đón kính lễ vấn tấn (như trước).

6. Thấy bốn chúng phá hủy giới đã thọ, sanh tâm kiêu mạn (như trước).

7. Sáu ngày trai trong tháng không thọ tám giới cúng dường tam bảo  (như trước).

8. Trong 40 dặm có một chỗ giảng pháp không đến để nghe (như trước).

9. Nhận chiêu đề Tăng ngọa cụ sàng tòa (như trước).

10. Nghi nước có trùng mà cố uống (như trước).

11. Chỗ hiểm nạn không có bạn riêng một mình (như trước).

12. Ngủ một mình nơi chùa ni (như trước).

13. Vì tiền của sai đánh mắng nô tỳ, tôi tớ, người ngoài (như trước).

14. Lấy cơm cho bốn chúng (như trước).

15. Nuôi mèo chồn (như trước).

16. Nuôi dưỡng tất cả loài vật voi, ngựa, dê, lừa, lạc đà…(như trước).

17. Không chứa để Tăng già lê, y bát, tích trượng (như trước).

18. Hoặc cần làm ruộng không cầu tịnh thủy và chỗ trồng trọt (như trước).

19. Vật nói giá rồi, chê dở mua tốt, cân lường vật không công bình (như trước).

20. Hành dục ở phi xứ phi thời (như trước).

21. Trốn tránh thuế quan (như trước).

22. Phạm điều cấm chế của quốc gia (như trước).

23. Được thóc, trái cây, rau củ, không trước cúng dường tam bảo mà tự thọ dụng (như trước).

24. Tăng nếu không cho nói pháp khen ngợi liền tự làm (như trước).

25. Trên đường hoặc đi trước tỳ kheo, sa di (như trước).

26. Trong tâm cho thức ăn, hoặc thiên vị chọn lựa đồ tốt đẹp đem cho quá phần (như trước).

27. Nuôi tằm (như trước).

28. Trên đường đi gặp người bệnh không chăm sóc vì họ làm phương tiện dặn dò (như trước).

Tam đàn truyền giới chánh phạm quyển bốn.

THIỀN SƯ GIÁC NGUYÊN VÀ BỔN SƯ LÀ TÁ AN LÃO HÒA THƯỢNG BÀN VỀ SÁCH TRUYỀN GIỚI.

Sách truyền giới, trong luật gọi là thọ giới Yết ma, Đông độ Tuyên luật sư trở về sau, từ Hoa Sơn truyền giới chánh phạm. Một khi xuất bản để thiên hạ thờ làm Ty Nam, gọi là luật chủ, thật đầy đủ để trang nghiêm Phật thọ, nhưng kiểm tra lại thì thấy trong đó có nhiều điều không xuyên suốt, phàm tính kể thì:

1. Là phát bồ đề tâm không xuyên suốt.

2. Là sám hối không xuyên suốt.

3. Là hỏi già nạn không xuyên suốt.

4. Là bạch tứ Yết Ma không xuyên suốt.

Người chủ Yết Ma có thể bỏ đây mà dùng cũng được, ngay nơi đây dùng cũng vậy.

Sao gọi là phát tâm bồ đề không xuyên suốt?

Phàm nói tới tâm bồ đề nầy thì đầy đủ tất cả Phật pháp.

1. Là trực tâm chánh niệm chơn như pháp.

2. Là thân tâm đầy đủ mười ba la mật.

3. Là hồi hướng tâm.

Do đại nguyện của chư Phật hồi hướng ba chỗ, đó là tam tâm nầy phần chứng tam hiền, tam tâm nầy hợp chứng thập địa, tam tâm nầy sánh với đẳng giác, có tam tâm nầy mà được diệu giác viên mãn. Trong tạng có Thọ Bồ Tát Tâm Giới một quyển. Nếu thọ một giới này thì được đầy đủ tất cả giới vậy.

 Nay không trước thọ giới này, trước dạy sám hối, đến lúc truyền thọ giới Bồ tát, chỉ hỏi phát tâm bồ đề chưa? Đáp rằng: Đã phát. Người cầu thọ đều không biết bồ đề tâm là vật gì, chỉ mê mờ hỏi đáp mà thôi.

Kinh Hoa Nghiêm chép: “Quên mất tâm bồ đề mà tu các pháp lành, đó là việc ma.” Nói đến việc người làm ty Yết Ma, lúc phát lồ trước phải dạy kỷ, để hướng trước mười phương chư Phật phát hoằng thệ nguyện. Người làm ty giáo thọ, lúc nói qua tỳ ni để dạy thì lấy phẩm tịnh hạnh trong kinh Hoa Nghiêm hướng đến trước Văn Thù phát 140 lời đại nguyện, phát một nguyện lạy một lạy. Sau đến lúc hỏi: Các vị đã phát tâm bồ đề chưa?” Thì trong lòng rõ ràng không đến nỗi vội vàng vậy.

Sao gọi là sám hối không xuyên suốt?

Phàm nói đến việc sám hối gọi là phát lồ, sửa đổi lỗi trước, chừa bỏ lỗi sau. Kinh Quyết Định Tỳ Ni Thế tôn dạy: “Pháp phát lồ, gọi là ngũ vô gián, thập bất thiện, trộm vật của Tăng, che giấu”. Lại dạy: “Nhằm để hồi hướng khen lễ 35 hồng danh đức Phật, không nhiều cũng không ít, có thể lấy đây làm phương thức”. Cho đến chỉ chuyên xưng niệm một Phật Bổn Sư Thích Ca cũng được, nhằm để giảm bớt tội lỗi. Tuy nhiên mà phát lồ không rộng khắp thì có khác gì cho phú tàng?.

Sao gọi là hỏi già nạn không xuyên suốt?

Trong luật, lấy một người một đàn làm chánh, nếu nhiều thì không được hơn ba người. Thời nay quyết định ba người một đàn rồi sợ nhọc mệt mà luống làm sơ sài.

Y bát này là ngươi tự có đúng không? Đáp: dùng chữ “thị” (đúng).  Nói chữ đúng ở đây nghĩa là tự mình có chứ không phải là mượn. Thời nay đổi dùng chữ “hữu” (có) là rõ ràng khai cho mượn y bát. Sau hỏi: Y bát có đủ không? Đáp: Đầy đủ. E rằng chữ không đủ cùng với chữ đúng ở trên, hai việc phân phân minh. Nếu chữ trước sửa thành chữ (có), không luận là văn nghĩa không đối xứng, mà trước có sau lại đầy đủ nhưng không bị trùng điệp.

Sao gọi là hỏi yết ma không xuyên suốt?

 Nói đến Tứ Phần Yết Ma cùng Tùy Cơ Yết Ma, tuy đều thuộc hệ thống luật tạng nhưng Luật Tăng Kỳ  bổn ý của Phật thấy ở trong Xá Lợi Phất Vấn Kinh. Còn các bộ khác thì  thêm vào Cam Lộ, Phật đã có lời dạy rõ ràng vậy.

Nay đàn truyền giới việc bạch tứ Yết Ma, nếu chú trọng ở tứ phần là không đầy đủ chọn pháp nhãn vậy. Thế  thì tại sao trong phép của nhà Phật lấy việc im lặng làm ấn chứng, mọi chỗ đều im lặng. Nay trong phần bạch tứ Yết Ma thêm vào bốn chữ thành không? Đại chúng đều đáp bốn chữ thành. Vậy là trong Tăng rốt ráo không có ai im lặng vậy.

Không luận là chẳng đúng với pháp của nhà Phật, thì liền thấy ở câu kết. “Vì cớ im lặng…”, ta thấy câu trước câu sau tự trái nhau. Chỉ có trong bộ Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập Yếu của Linh Phong đại sư không dùng bốn chữ thành, thật là nguỗng chúa chọn sửa, bước này là việc quan trọng để giới tử đắc giới, nên không thể không bàn.

Lại thậm tệ hơn nữa, luật là chỉ có Phật chế, như phép vua không thể thêm bớt, nay trong bộ Truyền Giới Chánh Phạm trích bỏ một điều, là cầu trao cho người cụ túc giới Yết Ma, thật là giảm tổn luật chế. Giống như nhà Chu ban tước chế các nước chư hầu, người xấu hại mình đều bị đuổi ra khỏi nước. Còn việc truyền giới mà bỏ đi một Yết Ma này, thì khác gì các nước chư hầu thời chiến quốc phá hoại phép chế của nhà Chu? May thay bản xưa vẫn còn, vẫn có chỗ để tra xét. Phàm người làm công việc truyền giới, thì  nên dùng những điều đúng phép tắc, bỏ những điều tệ lậu. Như thế mới có thể truyền tam ấn Phật, nhưng may mắn thay không có bắt chước làm điều xằng bậy vậy.

Dịch xong ngày 1 tháng 6 năm Kỷ Sửu

Thích Thiện Phước

————————————————————–

 

9.5Tam Đàn truyền giới
1007022
Total Visit : 905334