Thứ 7, ngày 23 tháng 3 năm 2019
"HÃY TỰ MÌNH THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI. TA TỪ GIÃ CÁC CON, NƠI SA LA SONG THỌ. RẰM THÁNG HAI ÂM LỊCH, TRĂNG THẮM LỆ ĐÀO. ĐỨC TỪ PHỤ BỔN SƯ AN NHIÊN NIẾT BÀN NHẬP DIỆT."
Pháp Khí Nhà Phật

Nguồn gốc Pháp Tràng trong Phật giáo.

Tràng là dụng cụ để trang nghiêm đạo tràng trong Phật giáo. Tiếng Phạn là Phược Nhã, có khi gọi là Kế Đô, là Bảo Tràng, Thiên Tràng. Tràng là một loại cờ, trong Phẩm Thí Dụ.

Bảy món châu báu.

Thất bảo là dịch ý từ tiếng Phạn (Saptaratnani) có hai ý nghĩa:

Là chỉ cho vàng ngọc, châu báu bảy món trân quí ở cõi Phật, chủng loại và công dụng cũng bất nhất, nay nêu ra bốn loại tiêu biểu như sau.

Nguồn gốc Chinh cổ trong Phật giáo

Chinh cổ là cái trống làm bằng kim loại, còn gọi là chung cổ, thường cổ, “Chinh” từ Việt gọi là cái chiêng, còn gọi là chiêng và trống nói nhập chung lại.

Nguồn gốc Ấn Tam bảo – Ấn Chương – Ấn Tự viện.

Ấn có nghĩa là con dấu, cái mộc. Có khắc tên họ chức vụ nghề nghiệp của người ký tên vào văn kiện, thư tín, có khi khắc cả địa chỉ vào, được đóng ở dưới chữ ký.

Nguồn gốc Thắp đèn trong Phật giáo.

Đời sống đau khổ, giống như ở trong căn nhà tối, đầy dẫy những hắc ám vô minh, vì thế muốn thoát ly đau khổ thì phải tu nhân tích đức, cũng như dùng ngọn đèn sáng, phá trừ sự tối tăm đau khổ.

Nguồn gốc Pháp luân trong Phật giáo.

Theo Truyền thuyết Ấn Độ, Đức Phật thuyết pháp như Chuyển Luân Thánh Vương cai trị thiên hạ. Bấy giờ chuyển bánh xe báu hàng phục các ma hay phá tan những ác kiến của chúng sanh.

Nguồn gốc Nhành dương và Tăm xỉa răng

Cây xỉa răng xuất hiện rất sớm trong Phật giáo, chư Tăng dùng để xỉa răng trong sinh hoạt hằng ngày, cũng là 1 trong 18 món mà các Tỳ kheo đại thừa mang theo bên mình.

Nguồn gốc Bảo Cái trong Phật giáo.

Cái: Là một loại dùng để che mưa, che nắng, cũng gọi là tán cái, lạp cái (nón che). Ấn Độ là xứ nhiệt đới, trời nắng gay gắt, vô cùng nóng bức, những người ở đó, thời gian đi ra ngoài tương đối nhiều.

Nguồn gốc Lạc tử trong Phật giáo

Hình dáng y như cái túi đãi ngày nay vậy, nhưng có điều tướng. Tăng nhơn sử dụng đeo trên cổ khi có các hoạt động Phật sự

Nguồn gốc Kiền chùy trong Phật giáo

Luật Ngũ Phần chép: “Tùy theo có vật dụng như ngói cây đồng sắt, đánh mà có tiếng kêu thì gọi là Kiền chùy.”

Kinh Âm Sớ chép: “Kiền (犍 ) âm là kiền (虔¯), trĩ (稚). Trung Hoa dịch là tiếng gỗ đánh.”

686362
Total Visit : 584674