Thứ 3, ngày 23 tháng 4 năm 2019
“TÀO KHÊ NƯỚC CHẢY VỀ ĐÔNG, Y BÁT NỐI DÕI LÂU KHÔNG NHỚ NGÀY, TRĂNG THIỀN NÀO KHÁC XƯA NAY, CHÂU HOÀN ẤN CHỨNG ĐÃ DÀY LÒNG TU”
Nghi Lễ

Ngày Thánh đản Bồ tát Địa tạng.

“Bồ tát Địa Tạng từ khi phát tâm tu hành đến nay đã trải qua vô lượng kiếp, công đức trí tuệ tương đồng với Phật, vốn ra Ngài đã thành Phật từ lâu.

Ý nghĩa chắp tay trong nghi thức Phật giáo.

Trong nghi thức hằng ngày, khi lễ Phật, khi chào nhau, người Phật tử thường chắp tay và niệm Phật. Hành động chắp tay (chấp tay) đó, Phật giáo gọi là hiệp chưởng, hợp thập hay hợp trảo.

Ý nghĩa 2 chữ “Trụ trì”

“Thiền Uyển Thanh Qui, tiết Tôn Túc Trụ Trì” chép: “Thay Phật hoằng dương hóa độ, là Tăng chức Tri Sự trong chùa Thiền Tông. Cho nên gọi là truyền pháp. Mỗi người đều ở một chùa riêng.

Nguồn gốc Như ý trong Phật giáo.

Như Ý: “Thích Thị Yếu Lãm” chép: “Tiếng Phạn gọi là A Na Luật, đời Tần gọi là Như ý “. Chỉ Qui Truyện” chép: “Đó chính là cây gậy móng tay của người xưa vậy. Có khi dùng xương, sừng, tre, gỗ.

Ý nghĩa hoa man – vòng hoa trong Phật giáo.

Hoa mạn nguyên là trang sức nơi thân, là cái vòng được kết bằng những bông hoa. Người Ấn Độ xưa không phân biệt nam nữ thảy đều dùng nó làm trang sức.

Nguồn gốc chuỗi niệm Phật.

Chuỗi niệm Phật còn gọi là niệm châu, Phật châu, sổ châu, tụng châu, chú châu, nhân vì những hạt nầy có liên quan đến nhà Phật, khi đeo nó lên trên thân thì sẽ có một cảm giác thú vị đặc biệt.

Ý nghĩa 2 chữ “Hòa thượng”.

Bộ “Hoa Nghiêm Âm Nghĩa” của ngài Huệ Uyển chép: “Hòa thượng xét theo phương ngôn của người Ấn Độ gọi Hòa thượng là Ổ Ba Đà Da. Nhưng người bình dân ở nước ấy gọi là Miệt Xả.

Công đức dâng hoa cúng dường Phật.

Trong Kinh điển Phật giáo thường đề cập đến hoa báu từ trên trời rơi xuống, như phẩm Thí Dụ kinh Pháp Hoa: “Nếu lúc muốn đi thì có hoa báu đỡ chân”. Hoa báu là chỉ cho các loại trân bảo hợp thành.

Nguồn gốc Chuông trong Phật giáo.

Buổi hoàng hôn hay lúc sáng sớm tinh sương, trong cảnh u tịch của chốn Thiền môn, tiếng chuông chùa du dương ngân nga, khiến cho cõi lòng nhẹ nhàng an tĩnh, như đưa người trở về với thực tại.

Nguồn gốc 2 chữ “Phương trượng”.

Vương Huyền Sách đời nhà Đường, khi đi sứ sang Tây Vực, ghé qua chỗ của Duy Ma ở khi xưa, ông dùng cái hốt để đo ngang dọc thì tính ra được 10 hốt, nhân đó mà gọi là Phương trượng”.

701650
Total Visit : 599962